Điều 7. Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật đối với dịch văn bản, giấy tờ liên quan đến giao dịch
1. Dịch văn bản, giấy tờ liên quan đến giao dịch là việc người dịch thực hiện dịch văn bản, giấy tờ từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài, tiếng dân tộc hoặc từ tiếng nước ngoài, tiếng dân tộc sang tiếng Việt. Nội dung văn bản dịch phải có liên quan đến giao dịch của người yêu cầu công chứng.
2. Ngôn ngữ dịch được phân thành các nhóm:
a) Nhóm 6 ngôn ngữ chính thức của Liên hợp quốc (gồm: tiếng Ả Rập, tiếng Hoa, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Tây Ban Nha).
b) Nhóm các ngôn ngữ ngoài ngôn ngữ chính thức của Liên hợp quốc.
c) Nhóm ngôn ngữ dân tộc.
3. Văn bản dịch được phân thành các nhóm:
a) Văn bản thông thường là các loại văn bản, giấy tờ mà nội dung có tính chất ít phức tạp (từ ngữ trong văn bản có tính thông dụng hàng ngày) và không thuộc trường hợp quy định tại điểm b, điểm c khoản này.
b) Văn bản chuyên ngành là các loại văn bản, giấy tờ mà nội dung có tính chất phức tạp (từ ngữ trong văn bản có tính chuyên ngành, kỹ thuật) như: hợp đồng kinh tế, dân sự, lao động; văn bản công chứng; bản án, quyết định của tòa án; các văn bản chuyên ngành y khoa, kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, công nghiệp và các loại văn bản có tính chất tương tự.
c) Văn bản theo biểu mẫu: Văn bản được ban hành theo biểu mẫu do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định, như: căn cước, khai sinh, khai tử, kết hôn.
4. Văn bản dịch thuật được thể hiện trên khổ giấy A4, phông chữ Times New Roman, bộ mã ký tự Unicode theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6909:2001, màu đen. Cỡ chữ và kiểu chữ theo quy định cụ thể cho từng yếu tố thể thức; thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2020 của Chính phủ về công tác văn thư. Mỗi trang khoảng 350 chữ. Đối với văn bản, giấy tờ theo biểu mẫu thì tính theo trang mẫu của văn bản gốc.