vanban.org

Điều 8. Ghi nhãn hàng hóa. — Quyết định 58/2015/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 03/12/2015 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Hà Tĩnh Ban hành 23/11/2015 Hiệu lực 03/12/2015 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 2 phiên bản · 16 năm
Quyết định số 58/2015/QĐ-UBND V/v ban hành quy định quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh · 58/2015/QĐ-UBND
03/12/2015Bản gốcThay thế Hiện hành
Quyết định số 13/2010/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định phân công trách nhiệm và quản lý quan hệ giữa các ngành, các cấp trong quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hang hóa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh · 13/2010/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 58/2015/QĐ-UBND › Chương II › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Ghi nhãn hàng hóa.

Việc ghi nhãn hàng hóa được thực hiện theo Nghị định số 89/2006/NĐ-CP của Chính phủ, cụ thể như sau:

1. Hàng hóa lưu thông trên địa bàn tỉnh phải được ghi nhãn theo quy định, trừ những trường hợp quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này. Nhãn hàng hóa bắt buộc phải thể hiện các nội dung sau:

a) Tên hàng hóa;

b) Tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa;

c) Xuất xứ hàng hóa.

Ngoài nội dung trên, tùy theo tính chất của mỗi loại hàng hóa, phải thể hiện trên nhãn hàng hóa các nội dung bắt buộc quy định tại Điều 12 của Nghị định 89/NĐ-CP và quy định tại các văn bản luật, pháp lệnh chuyên ngành có liên quan.

2. Trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa

a) Hàng hóa được sản xuất, lắp ráp, chế biến, đóng gói tại địa phương để lưu thông trong nước thì tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa phải chịu trách nhiệm về việc ghi nhãn.

b) Hàng hóa được sản xuất, chế biến tại địa phương để xuất khẩu thì tổ chức, cá nhân xuất khẩu hàng hóa phải chịu trách nhiệm về việc ghi nhãn.

Trong trường hợp hàng hóa không xuất khẩu được mà đưa trở lại lưu thông trong nước thì tổ chức, cá nhân đưa hàng hóa ra lưu thông phải ghi nhãn theo quy định.

c) Hàng hóa nhập khẩu vào địa phương mà trên nhãn chưa thể hiện hoặc thể hiện chưa đủ những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt thì phải có nhãn phụ thể hiện những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt và giữ nguyên nhãn gốc của hàng hóa. Nội dung ghi bằng tiếng Việt phải tương ứng với nội dung ghi trên nhãn gốc.

3. Hàng hóa không bắt buộc phải ghi nhãn:

a) Hàng hóa là thực phẩm tươi, sống, thực phẩm chế biến không có bao bì và bán trực tiếp cho người tiêu dùng;

b) Hàng hóa là nhiên liệu, nguyên liệu (nông sản, thủy sản, khoáng sản), vật liệu xây dựng (gạch, ngói, vôi, cát, đá, sỏi, xi măng, đất màu, vữa, hỗn hợp bê tông thương phẩm), phế liệu (trong sản xuất, kinh doanh) không có bao bì và bán trực tiếp theo thỏa thuận với người tiêu dùng.

4. Trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam yêu cầu ghi nhãn hàng hóa theo hợp đồng mua bán hàng hóa và chịu trách nhiệm về yêu cầu của mình thì tổ chức, cá nhân xuất khẩu hàng hóa được thực hiện theo hợp đồng với điều kiện những yêu cầu này không làm sai lệch bản chất của hàng hóa, không vi phạm pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước nhập khẩu.

5. Hàng hóa thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng; hàng hóa là chất phóng xạ, hàng hóa sử dụng trong trường hợp khẩn cấp nhằm khắc phục thiên tai, dịch bệnh; phương tiện giao thông đường sắt, đường thủy, đường không; hàng hóa do các cơ quan nhà nước tịch thu đem bán đấu giá, thanh lý có quy định riêng.