vanban.org

Điều 20. Xử lý khi có sự thay đổi khối lượng gỗ khai thác so với khối lượng ghi trong hợp đồng — Quyết định 58/2011/QĐ-UBNĐ

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 12/11/2011 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Lâm Đồng Ban hành 02/11/2011 Hiệu lực 12/11/2011 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 58/2011/QĐ-UBNĐ › Chương IV › Điều 20
Đọc toàn văn

Điều 20. Xử lý khi có sự thay đổi khối lượng gỗ khai thác so với khối lượng ghi trong hợp đồng

1. Trường hợp Nhà nước đình chỉ hoặc giảm chỉ tiêu khai thác gỗ do yêu cầu đột xuất (không phải do lỗi của đơn vị trúng thầu) làm thiệt hại đến lợi ích kinh tế chính đáng của đơn vị trúng thầu, thì đơn vị trúng thầu được xem xét giải quyết đền bù những thiệt hại đó.

2. Trường hợp đơn vị trúng thầu đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy trình, quy phạm trong khai thác, chặt đúng cây có dấu bài mà phát sinh thừa, thiếu khối lượng so với hồ sơ thiết kế thì được xử lý như sau:

a) Nếu khối lượng khai thác tăng hoặc giảm không quá 15% so với khối lượng thiết kế khai thác (tính theo sản lượng gỗ lớn), thì sự chênh lệch này được chấp nhận trong phạm vi sai số cho phép của thiết kế khai thác.

b) Nếu sản lượng khai thác lấy ra thiếu hoặc thừa trên 15% so với sản lượng thiết kế (tính theo sản lượng gỗ lớn) do chất lượng thiết kế không đảm bảo thì đơn vị thiết kế phải bị xử lý theo quy định.

3. Trường hợp gỗ khai thác bị sam bọng, rỗng ruột không đạt cấp chất lượng B theo quy định TCVN 1074 - 71 nhóm O thì được xử lý như sau:

a) Khối lượng gỗ được nghiệm thu được hiểu là khối lượng đặc đã trừ sam bọng, rỗng ruột.

b) Nếu khối lượng gỗ sam bọng, rỗng ruột chiếm không quá 10% so với tổng sản lượng gỗ trúng thầu thì chi phí và giá bán vẫn áp dụng theo đơn giá ghi trong hợp đồng

c) Nếu khối lượng gỗ sam bọng, rỗng ruột chiếm trên 10% so với tổng sản lượng gỗ trúng thầu thì xử lý như sau:

- Chi phí khai thác của khối lượng gỗ sam bọng, rỗng ruột được tính tăng lên tương ứng với tỷ lệ sam bọng, rỗng ruột của từng lóng gỗ so với đơn vị giá ghi trong hợp đồng nhưng không quá 50% chi phí khai thác của khối lượng gỗ nguyên (khối lượng chưa trừ sam bọng, rỗng ruột).

- Giá bán của khối lượng gỗ sam bọng, rỗng ruột giảm tương ứng với tỷ lệ sam bọng, rỗng ruột của từng lóng gỗ so với đơn giá ghi trong hợp đồng nhưng không thấp hơn các khoản chi phí và thuế phải nộp.

d) Đơn vị trúng đấu giá mua cây đứng và đơn vị được giao thầu mua cây đứng vẫn phải tiêu thụ hết khối lượng gỗ sam bọng, rỗng ruột lấy ra nói trên.

4) Đơn vị khai thác (bao gồm cả đơn vị trúng thầu và được giao thầu) phải tổ chức khai thác lấy ra hết phần gỗ lớn và gỗ cành ngọn đạt tiêu chuẩn gỗ tròn theo quy định của TCVN 1074 - 71 nhóm O của những cây đã được bài chặt theo thiết kế được duyệt.

Nếu đơn vị khai thác không khai thác lấy ra hết khối lượng gỗ này, mà không thuộc các trường hợp nêu ở mục 1, 2 Điều này thì phải bồi thường cho Nhà nước về khối lượng gỗ không lấy ra này theo đơn giá ghi trong hợp đồng. Trong trường hợp đơn vị khai thác không nộp đủ tiền bồi thường thì đơn vị chủ rừng trừ vào khoản tiền đặt cọc thực hiện hợp đồng. Tiền bồi thường này được xem như tiền mua gỗ, đơn vị chủ rừng xử lý như quy định tại điểm b, Khoản 1, Điều 17 Quy chế này; đồng thời báo cáo UBND tỉnh và các ngành chức năng.

5. Ngoài số gỗ lớn và gỗ cành ngọn đã được lấy ra theo đúng thiết kế, để khuyến khích đơn vị khai thác tăng cường tận dụng, tận thu triệt để sản phẩm gỗ nhỏ, cành ngọn, cây cong queo, sâu bệnh, sam bọng, rỗng ruột còn lại, thì giá bán và phương thức thanh toán cho đơn vị khai thác thực hiện theo quy định của UBND tỉnh về phân công quản lý, phân cấp duyệt giá và đấu thầu, đấu giá bán lâm sản tận thu, tận dụng và lâm sản thu qua xử lý vi phạm.