Điều 10: Lãnh đạo các Sở, ban, ngành, đơn vị và địa phương trong tỉnh, ngoài việc thực hiện trách nhiệm quy định tại Quyết định số: 73/2004/QĐ-UB ngày 22 tháng 9 năm 2004 của UBND tỉnh Quảng Nam, cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
1. Sở Thuỷ sản:
1.1 Chịu trách nhiệm hướng dẫn các địa phương nghề cá tổ chức triển khai thực hiện Quy chế này trên địa bàn toàn tỉnh. Phối hợp với các địa phương trọng điểm nghề cá để thành lập các TĐK thí điểm đối với các nghề khai thác chủ lực;
1.2. Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức và nghiệp vụ đảm bảo an toàn đi biển cho các TĐK và hướng dẫn sử dụng các trang thiết bị an toàn trên tàu cá như: phương tiện thông tin, tín hiệu, hàng hải, phương tiện cứu sinh, cứu đắm, chống thủng…;
1.3. Nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ khai thác hải sản, xây dựng các cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư, du nhập các nghề khai thác mới có hiệu quả vào địa bàn tỉnh. Trên cơ sở các Đội tàu, các TĐK, phối hợp các huyện, thị xã xây dựng Phương án thành lập các Tập đoàn khai thác khơi theo chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nghề cá trình UBND tỉnh quyết định;
1.4. Xây dựng các Quy ước mẫu cho các TĐK đối với từng loại nghề khai thác hải sản; phối hợp với các địa phương hướng dẫn để xây dựng Quy ước cụ thể phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng đội tàu;
1.5. Phối hợp với Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, thường trực Ban tìm kiếm cứu nạn tỉnh kết nối thông tin nắm bắt tình hình hoạt động của các tàu cá trên biển nhằm triển khai các biện pháp ứng cứu, tìm kiếm cứu nạn kịp thời;
1.6. Xây dựng Dự án đầu tư hệ thống thông tin kết hợp GIS (Hệ thống thông tin địa lý) và GPS (Hệ thống thông tin định vị toàn cầu) hoặc hệ thống thông tin khác để phục vụ cho việc quản lý các TĐK cũng như chỉ đạo tổ chức sản xuất trên biển trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và triển khai thực hiện;
1.7. Chủ trì xây dựng Quy hoạch phát triển ngành nghề Khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh trình UBND tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện.
2. Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản:
2.1. Là cơ quan thường trực, tham mưu cho Sở Thủy sản tổ chức triển khai thực hiện Quy chế này trên địa bàn tỉnh; phối hợp với các Phòng Kinh tế các huyện, thị xã và UBND các xã, phường nghề cá tổ chức thành lập thí điểm các TĐK theo Kế hoạch và chỉ đạo của Sở Thủy sản đồng thời theo dõi, hướng dẫn các địa phương tiếp tục triển khai nhân rộng các mô hình thí điểm này trên địa bàn toàn tỉnh;
2.2. Bằng các phương tiện thông tin liên lạc hiện có để quản lý chặt chẽ tàu thuyền hoạt động trên biển, phối hợp với Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh nhanh chóng nắm bắt số lượng, tình hình hoạt động của các tàu cá trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp để chỉ đạo các TĐK tổ chức ứng cứu, tìm kiếm cứu nạn cứu hộ,...
3. Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã nghề cá:
3.1. Chỉ đạo các phòng, ban chức năng, các tổ chức Hội, đoàn thể, Uỷ ban nhân dân các xã, phường có tàu cá tuyên truyền, giáo dục để các chủ tàu cá hiểu rõ tầm quan trọng, lợi ích thiết thực của việc tổ chức khai thác hải sản trên biển theo TĐK; chủ trì phối hợp với Ngành Thủy sản tổ chức triển khai thực hiện Quy chế này tại địa phương mình;
3.2. Chỉ đạo Uỷ ban nhân dân xã, phường tổ chức hướng dẫn, quyết định thành lập và tổ chức quản lý các TĐK khai thác hải sản trên địa bàn xã, phường; hướng dẫn xây dựng và phê duyệt Quy ước, tổ chức chỉ đạo việc cam kết ràng buộc giữa các chủ tàu; báo cáo kết quả thực hiện cho Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã để tổng hợp báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Thủy sản;
3.3. Tổng kết thực tiễn, phối hợp với ngành Thủy sản đề xuất các chính sách hỗ trợ đầu tư nâng cấp cải hoán tàu thuyền, phát triển các nghề khai thác mới hoặc chuyển đổi nghề nghiệp phù hợp;
3.4. Chỉ đạo các Phòng, ban chức năng, UBND các xã, phường theo dõi, giám sát và chỉ đạo quá trình tổ chức hoạt động của các TĐK trên biển, thực hiện các biện pháp điều chỉnh để các TĐK phát triển, nhanh chóng ổn định, sớm đưa các hoạt động khai thác hải sản đi vào nề nếp, có tổ chức;
3.5. Trên cơ sở các TĐK, chủ trì chỉ đạo xây dựng, phê duyệt Phương án thành lập và Quy ước hoạt động của các Đội tàu khai thác hải sản, làm cơ sở để hình thành các Tập đoàn tàu khai thác khơi trên địa bàn tỉnh;
4. Uỷ ban nhân dân các xã, phường nghề cá:
Là cơ quan đầu mối, trực tiếp chịu trách nhiệm trước UBND huyện, thị xã và UBND tỉnh về việc tổ chức thực hiện quy chế này tại cơ sở; thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ theo sự chỉ đạo của UBND huyện, thị xã quy định tại Điểm 3, Điều 10, Chương III Quy chế này.
5. Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh:
5.1. Thông qua Trung tâm thông tin tìm kiếm cứu nạn đặt tại Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh để hỗ trợ, giúp đỡ và chỉ đạo các TĐK thực hiện công tác phòng chống lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, bảo vệ an ninh trật tự trên biển; thường xuyên liên hệ với các Đài Khí tượng Thuỷ văn khu vực Trung bộ, Đài Khí tượng Thuỷ văn Quảng Nam nắm tình hình diễn biến thời tiết để kịp thời thông báo, cảnh báo cho ngư dân trên biển; thống kê toàn bộ kênh, tần số thu phát các máy thông tin liên lạc của tất cả các tàu cá trong tỉnh để liên lạc với tàu cá trong mọi tình huống;
5.2. Chỉ đạo các Đồn Biên phòng tuyến biển phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong công tác tuyên truyền, hướng dẫn, tổ chức thành lập và quản lý các TĐK; phối hợp xử lý, điều chỉnh các tình huống phức tạp trong việc thực hiện Quy ước TĐK; thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình hoạt động của các TĐK báo cáo về Bộ chỉ huy để kịp thời chỉ đạo giải quyết;
5.3. Chỉ đạo các Đồn Biên phòng tuyến biển cải tiến thủ tục kiểm soát biên phòng đối với các thành viên TĐK, chủ trì thực hiện và hỗ trợ Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản thống kê số lượng, nắm bắt tình hình hoạt động của tàu thuyền, thực hiện báo cáo nhanh để xử lý và đề xuất xử lý các tình huống khẩn cấp trên biển;
5.4. Sử dụng lực lượng, phương tiện cứu hộ, cứu nạn để tổ chức ứng cứu, xử lý các tình huống khẩn cấp trên biển theo các quy định về tìm kiếm cứu nạn trong điều kiện thực tế cho phép.
6. Sở Văn hoá- Thông tin:
Chỉ đạo các cơ quan thông tin ở địa phương tuyên truyền, phổ biến để ngư dân hiểu rõ lợi ích của việc tham gia TĐK và thực hiện các quy định về đảm bảo an toàn khi hoạt động khai thác trên biển.
7. Đài Phát thanh truyền hình Quảng Nam và Báo Quảng Nam:
Phát các bản tin báo bão của Tổng cục Khí tượng thuỷ văn, Đài Khí tượng Thuỷ văn khu vực Trung Trung bộ, Đài Khí tượng Thủy văn Quảng Nam theo quy định về báo bão, các công điện và mệnh lệnh của Ban Chỉ huy Phòng, chống lụt bão, Tìm kiếm cứu nạn Trung ương và tỉnh.
8. Sở Kế hoạch - Đầu tư, Sở Tài chính:
Sở Kế hoạch - Đầu tư, Sở Tài chính cân đối kế hoạch kinh phí hàng năm cho công tác tuyên truyền, tập huấn, đào tạo, đầu tư máy móc, thiết bị kỹ thuật để Sở Thuỷ sản, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh hỗ trợ cho các TĐK trong khai thác hải sản, phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn trên biển.
9. Hội Nghề cá tỉnh Quảng Nam:
Chỉ đạo các huyện Hội, thị Hội Nghề cá, phối hợp với Phòng Kinh tế huyện, thị xã, Uỷ ban nhân dân xã, phường tổ chức tuyên truyền sâu rộng để Tổ viên làm nghề khai thác hải sản hiểu rõ lợi ích thiết thực của việc tổ chức sản xuất trên biển theo TĐK, tích cực vận động thành lập các Chi hội khai thác hải sản cùng với việc thành lập các TĐK nhằm tăng hiệu quả hoạt động của hình thức này.
10. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn tỉnh Quảng Nam:
Cung cấp kịp thời các bản tin dự báo thời tiết, dự báo bão, áp thấp nhiệt đới, lốc biển ... cho Ban chỉ huy PCLB tỉnh, Ban TKCN tỉnh, Sở Thuỷ sản, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh để kịp thời thông báo và chỉ đạo các TĐK trên biển.