vanban.org

Điều 11. Việc xác định hạn mức công nhận diện tích đất ở theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Bản Quy định này được áp dụng đối với các trường hợp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày Bản Quy định này có hiệu lực thi hành và các trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. — Quyết định 57/2005/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 24/10/2014 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 24/10/2014 Thay thế: 25/2014/QĐ-UBND · 14/10/2014
Quảng Bình Ban hành 16/11/2005 Hiệu lực 26/11/2005 Hết hiệu lực toàn bộ 1 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 25/2014/QĐ-UBND Ban hành Quy định về hạn mức giao đất, hạn mức công nhận quyền sử dụng đất ở; diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở; hạn mức đất nghĩa trang, nghĩa địa trên địa bàn tỉnh Quảng Bình · 25/2014/QĐ-UBND
Quyết định số 57/2005/QĐ-UBND Ban hành Quy định hạn mức giao đất ở và hạn mức công nhận diện tích đất ở cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh · 57/2005/QĐ-UBND
24/10/201425/2014/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 26/11/2005Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 57/2005/QĐ-UBND › Chương III › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Việc xác định hạn mức công nhận diện tích đất ở theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Bản Quy định này được áp dụng đối với các trường hợp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước ngày Bản Quy định này có hiệu lực thi hành và các trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trường hợp đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường rà soát, hướng dẫn để xác định lại hạn mức công nhận diện tích đất ở cho các hộ gia đình, cá nhân theo quy định tại Bản Quy định này; hộ gia đình, cá nhân không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ở được xác định lại và diện tích đất ở ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong trường hợp trước đây hộ gia đình, cá nhân đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà người nhận chuyển nhượng đã nộp tiền sử dụng đất do chuyển mục đích sử dụng đất thì nay không thực hiện việc thoái thu tiền sử dụng đất. Nếu hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ hợp lệ quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai mà trên giấy tờ đó đang ghi tên người khác kèm theo giấy tờ về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, có chữ ký của các bên có liên quan nhưng chưa thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất theo quy định nay được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được xác định lại diện tích đất ở theo Điều 8 và Điều 9 của Bản quy định này và không phải nộp tiền sử dụng đất.