vanban.org

Điều 4. Mùa cháy rừng, vùng trọng điểm xảy ra cháy rừng — Quyết định 56/2026/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 15/08/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
UBND Thành phố Hồ Chí Minh Ban hành 29/07/2026 Hiệu lực 15/08/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 56/2026/QĐ-UBND › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Mùa cháy rừng, vùng trọng điểm xảy ra cháy rừng

1. Mùa cháy rừng:

Mùa có khả năng cháy rừng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng thời gian 05 tháng, từ tháng 12 năm trước đến hết tháng 4 năm sau.

2. Vùng trọng điểm xảy ra cháy rừng:

a) Đặc điểm vùng rừng: Ở ven rừng và đất lâm nghiệp các hộ dân sinh sống, canh tác phần lớn sống dựa vào nghề nông, hệ thống đường giao thông, các lối mòn dẫn vào rừng, xung quanh rừng thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội nhưng vào mùa khô gây khó khăn cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng. Trong các khu rừng một số hộ dân cư trú, sinh sống, ngoài ra còn có một bộ phận người dân sống theo thời vụ làm nương rẫy trong rừng, trồng các loại cây nông nghiệp ngắn ngày và cây ăn trái lâu năm xen kẻ vào trong và ven rừng. Bên cạnh đó một số ít người dân sinh sống với nghề khai thác đá chẻ làm vật liệu xây dựng, lấy mật ong, vào rừng lấy củi, săn bắt chim thú rừng… vào mùa khô;

b) Các nguy cơ cháy rừng: Mùa khô kéo dài các hệ thống khe, suối nguồn nước cạn kiệt, rừng rụng lá nhiều, các loại cỏ khô tạo vật liệu cháy trong rừng. Diện tích rừng phần lớn nằm trên địa hình có độ dốc cao, phức tạp, vào mùa gió mùa đông bắc (gió chướng) với cường độ mạnh nên khi xảy ra cháy rừng rất khó dập tắt ngọn lửa. Vào các ngày Lễ, Tết khách du lịch từ các nơi đến tham quan du lịch, đi lễ chùa; học sinh, sinh viên học tập, nghiên cứu, hội trại trong rừng; người dân địa phương canh tác nông nghiệp trong rừng vệ sinh rẫy sau thu hoạch; người dân sống phụ thuộc vào rừng như: đốt than, đốt ong lấy mật, đốt trảng cỏ lấy cỏ chăn nuôi gây cháy lan vào rừng; một số đối tượng đốt phá hoại, đốt rừng nhằm mục đích chiếm đất rừng;

c) Các khu vực rừng trọng điểm cháy rừng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, gồm:

- Khu vực đồi núi có độ dốc cao như núi Minh Đạm (323 m), núi Bao Quan (502 m), núi Ông Câu (504 m), núi Thị Vải (467 m); núi Tóc Tiên (428 m); thực bì gây cháy chủ yếu là tre, le, lá khô dưới tán rừng; phần lớn diện tích bề mặt địa hình chia cắt mạnh, nhiều khe dốc hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn. Khu vực các bưng trũng nơi tập trung các loại cỏ dương xỉ, cây bụi tái sinh…phát triển mạnh vào mùa mưa, vào mùa khô khi xác thực vật chết khô tạo tạo nên lớp thảm mục dày gây cháy ngầm;

- Khu vực sườn Đông Núi Cậu tiếp giáp với đất nông nghiệp của nhiều người dân địa phương, kết hợp với lượng khách vào rừng vui chơi giải trí nhiều nên nguy cơ cháy rừng xảy ra rất cao, cụ thể gồm: khu vực Bộ đội thông tin, Suối bà khoảnh 2,4 tiểu khu 15; Rừng trồng, Đảo ba nhiên, khu vực đất Út Yên khoảnh 3,4,7 tiểu khu 15, khoảnh 1,3 tiểu khu 16; Bãi tập bắn, Bãi xe tăng khoảnh 2,5,7,10 tiểu khu 16; Hồ Than thở khoảnh 9,10 tiểu khu 16; Chùa Thái Sơn khoảnh 6,8 tiểu khu 16; Văn phòng ấp Thala, Hồ Than Thở đến bãi xe tăng khoảnh 8,9 tiểu khu 16; phần lớn diện tích bề mặt địa hình phức tạp, có nhiều khu vực khe dốc đồi núi hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, thực bì gây cháy chủ yếu là cỏ tranh, cỏ mỹ, lau lách, le, trúc đá, lá khô dưới tán rừng, (trong đó: le và trúc đá là loại thực bì chiếm ưu thế) và cây bụi. Do đó, khi có điều kiện thảm thực bì được tích lũy nhiều năm sẽ tạo những vật liệu dễ xảy ra cháy rừng;

- Khu vực rừng trên địa bàn xã Bình Lợi, xã Tân Vĩnh Lộc và xã Vĩnh Lộc, thực bì gây cháy chủ yếu là lá khô dưới tán rừng, thảm mục; tập trung các loại cỏ, cây bụi tái sinh phát triển mạnh vào mùa mưa, vào mùa khô khi xác thực vật chết khô tạo nên lớp thảm mục dày gây nguy cơ cháy.