Điều 16. Bàn giao tài sản cho người mua được tài sản đấu giá
1. Sau khi người mua được tài sản đấu giá nộp đủ tiền mua tài sản, tổ chức bán đấu giá tài sản phối hợp với cơ quan chủ trì xử lý tài sản, tổ chức, cá nhân đang giữ tài sản thực hiện việc bàn giao cho người mua.
2. Cơ quan chủ trì xử lý tang vật có trách nhiệm xuất hóa đơn bán tài sản cho người mua, trường hợp cơ quan chủ trì xử lý tài sản không thường xuyên phát sinh hoạt động này và không có hóa đơn thì phải đăng ký mua hóa đơn tại Sở Tài chính hoặc Phòng Tài chính - Kế hoạch cấp huyện, nơi đơn vị có trụ sở hoạt động để kịp thời cấp hóa đơn cho người mua được tài sản đấu giá.
3. Trường hợp tài sản, hàng hóa phải dán tem nhập khẩu, đóng búa kiểm lâm, hoặc phải tiến hành các thủ tục khác theo quy định của pháp luật thì thời hạn bàn giao tài sản chậm nhất là 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày đã thực hiện xong các thủ tục này. Đồng thời với việc bàn giao tài sản, tổ chức bán đấu giá tài sản phối hợp với cơ quan chủ trì xử lý tài sản bàn giao hồ sơ, giấy tờ cho người mua được tài sản đấu giá; hồ sơ bàn giao gồm:
a) Các quyết định xử phạt vi phạm hành chính, biên bản vi phạm hành chính (bản chính) trong trường hợp tài sản là tang vật vi phạm hành chính; quyết định tịch thu của cơ quan có thẩm quyền hoặc bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án đối với tài sản là vật chứng vụ án, tài sản của người bị kết án bị tịch thu;
b) Biên bản đấu giá tài sản (bản chính);
c) Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá (bản chính);
d) Hóa đơn bán tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước (bản chính);
đ) Các giấy tờ liên quan khác đến tài sản (nếu có).
2. Việc bàn giao tài sản cho người mua được tài sản đấu giá phải được lập thành biên bản, biên bản ghi rõ: Ngày, tháng, năm bàn giao; người bàn giao, người nhận; loại tài sản, số lượng, tình trạng tài sản; chữ ký của người giao, người nhận và người chứng kiến (nếu có).