vanban.org

Điều 6. Hạn mức công nhận đất ở trong trường hợp thửa đất ở có vườn, ao — Quyết định 53/2008/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 11/06/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 11/06/2015 Thay thế: 12/2015/QĐ-UBND · 01/06/2015
Quảng Nam Ban hành 26/12/2008 Hiệu lực 05/01/2009 Hết hiệu lực toàn bộ 1 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 6 phiên bản · 17 năm
Quyết định số số 28/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy định hạn mức giao, hạn mức công nhận quyền sử dụng đất, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất, diện tích tối thiểu được tách thửa, hợp thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam · số 28/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 15/2020/QĐ-UBND Ban hành Quy định hạn mức giao, hạn mức công nhận quyền sử dụng đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với các loại đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam · 15/2020/QĐ-UBND
Quyết định số 12/2015/QĐ-UBND Ban hành Quy định hạn mức giao, hạn mức công nhận quyền sử dụng các loại đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở trên địa bàn tỉnh Quảng Nam · 12/2015/QĐ-UBND
Quyết định số 53/2008/QĐ-UBND Ban hành Quy định hạn mức giao, hạn mức công nhận quyền sử dụng các loại đất và diện tích tối thiểu để tách thửa đất ở trên địa bàn tỉnh Quảng Nam · 53/2008/QĐ-UBND
11/06/201512/2015/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 05/01/2009Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 53/2008/QĐ-UBND › Chương II › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Hạn mức công nhận đất ở trong trường hợp thửa đất ở có vườn, ao

1- Trường hợp đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư được sử dụng trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 mà trong hồ sơ địa chính hoặc các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất qui định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai có ghi nhận rõ ranh giới thửa đất ở (hoặc thổ cư) thì toàn bộ diện tích đất đó được xác định là đất ở.

Trường hợp ranh giới thửa đất chưa được xác định trong hồ sơ địa chính hoặc trên các giấy tờ về quyền sử dụng đất qui định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì diện tích đất ở được xác định không quá năm (05) lần hạn mức diện tích giao đất ở qui định tại Điều 5 qui định này, nhưng tổng diện tích không vượt quá diện tích đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng; phần diện tích còn lại sau khi đã xác định diện tích mức đất ở thì được xác định loại đất theo hiện trạng sử dụng.

2- Trường hợp đất ở có vườn, ao trong cùng một thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư sử dụng từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 (ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành) và người đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất qui định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất vườn, ao được xác định theo giấy tờ đó. Trường hợp trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất có vườn, ao được xác định như sau:

a. Trường hợp số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình không quá 4 (nhân khẩu) thì hạn mức công nhận đất ở bằng hạn mức giao đất ở đã qui định tại khoản 1 Điều 5 qui định này.

b. Trường hợp số lượng nhân khẩu trong hộ gia đình lớn hơn 4 (từ 5 nhân khẩu trở lên), thì cứ mỗi nhân khẩu tăng thêm trong hộ gia đình được công nhận đất ở tăng thêm như sau:

b1. Đối với khu vực I: không quá 50 m2.

b2. Đối với khu vực II: không quá 75 m2.

b3. Đối với khu vực III: không quá 100 m2.

* Điều kiện pháp lý về nhân khẩu để được công nhận đất ở tăng thêm: phải có hộ khẩu thường trú tối thiểu là 06 tháng trong cùng một hộ với chủ hộ có đất, có nhu cầu được công nhận và được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận.

c. Trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở theo quy định này thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở, diện tích còn lại được xác định loại đất theo hiện trạng sử dụng. Trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn thì diện tích đất ở được xác định là toàn bộ diện tích thửa đất.

3- Trường hợp đất ở có vườn, ao trong cùng một thửa đất có nhà ở không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5, Điều 50 Luật Đất đai, sử dụng từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì diện tích đất ở được xác định theo hạn mức đất ở giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân để làm nhà ở theo qui định tại Điều 5 Quy định này, diện tích còn lại trong khuôn viên được xác định loại đất theo hiện trạng sử dụng.