vanban.org

Điều 5. Quy định về hòm công đức, phiếu ghi công đức — Quyết định 52/2026/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 30/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
UBND Tỉnh Hà Tĩnh Ban hành 15/07/2026 Hiệu lực 30/07/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 52/2026/QĐ-UBND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Quy định về hòm công đức, phiếu ghi công đức

1. Hòm công đức

a) Đơn vị, tổ chức quản lý di tích căn cứ quy mô và điều kiện thực tế bố trí tại mỗi di tích không quá 03 hòm công đức. Nơi đặt hòm công đức phải thuận tiện cho việc tiếp nhận cung tiến công đức của các tổ chức, cá nhân.

b) Hòm công đức phải bảo đảm an toàn và sử dụng 02 loại khóa, 01 khóa giao cho đại diện đơn vị quản lý di tích, 01 khóa giao cho Trưởng Ban quản lý di tích hoặc giao cho Phó Trưởng ban nắm giữ.

c) Hòm công đức (bao gồm két sắt) phải được niêm phong và giấy niêm phong phải đánh số thứ tự, ngày, tháng, năm niêm phong và có chữ ký của bộ phận có liên quan. Đơn vị quản lý di tích quyết định lựa chọn thành phần ký giấy niêm phong trên cơ sở đảm bảo khách quan, minh bạch.

2. Phiếu ghi công đức

a) Phiếu ghi công đức là hình thức ghi nhận công đức do tổ chức, đơn vị quản lý di tích quy định mẫu phiếu và phát hành.

b) Phiếu công đức phải có số sê-ri, được tích hợp mã QR hoặc các hình thức số hóa khác, phiếu được đóng dấu của tổ chức, đơn vị quản lý di tích.

c) Tổ chức, đơn vị quản lý di tích có trách nhiệm quản lý, kiểm soát số lượng phiếu ghi công đức và cấp phát cho tổ chức, cá nhân tham gia công đức, tài trợ cho di tích.

3. Tổ giám sát

Tổ chức, đơn vị quản lý di tích thành lập Tổ giám sát để thực hiện các hoạt động liên quan đến quản lý, tiếp nhận, sử dụng tiền công đức tại di tích:

a) Đối với Ban quản lý di tích kiêm nhiệm, thành phần Tổ giám sát gồm: Đại diện Hội đồng nhân dân, Lãnh đạo Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã nơi có di tích; phòng Kinh tế (Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị), phòng Văn hóa - Xã hội thuộc UBND cấp xã; Công an cấp xã nơi có di tích; đại diện Lãnh đạo Ban quản lý di tích.

b) Đối với Đơn vị sự nghiệp công lập, thành phần Tổ giám sát gồm: Lãnh đạo đơn vị; đại diện Phòng/Tổ chuyên môn, Tổ hành chính, kế toán, thủ quỹ thuộc đơn vị sự nghiệp công lập.

4. Mở hòm công đức và kiểm đếm tiền công đức

Việc mở hòm công đức do tổ chức, đơn vị quản lý di tích thực hiện theo trình tự như sau:

a) Thời gian mở hòm công đức và kiểm đếm tiền công đức được thực hiện hàng ngày hoặc hàng tuần tùy thuộc vào nguồn thu thực tế của di tích. Việc mở hòm công đức phải có sự tham gia của ít nhất 2/3 thành viên Tổ giám sát.

b) Quá trình kiểm đếm phải được thực hiện công khai, minh bạch. Sau khi kiểm đếm hoàn thành, lập biên bản ghi rõ số tiền tiếp nhận, loại tiền tệ (nếu có ngoại tệ), có chữ ký xác nhận của tất cả thành viên tham gia kiểm đếm và đóng dấu của tổ chức, đơn vị quản lý di tích. Biên bản kiểm đếm được lập thành ít nhất 02 bản: 01 bản lưu tại tổ chức, đơn vị quản lý di tích, 01 bản gửi cơ quan quản lý trực tiếp để theo dõi, tổng hợp.

c) Toàn bộ số tiền công đức sau khi kiểm đếm phải được nộp vào tài khoản tiền gửi của tổ chức, đơn vị đã mở tại Kho bạc Nhà nước hoặc Ngân hàng thương mại trong thời hạn không quá 48 giờ kể từ thời điểm kiểm đếm xong (không tính ngày nghỉ, lễ, Tết theo quy định của Nhà nước).

5. Khuyến khích lắp đặt hệ thống camera tại khu vực đặt hòm công đức và khu vực kiểm đếm tiền công đức để phục vụ công tác quản lý, giám sát, bảo đảm công khai, minh bạch.

6. Khuyến khích các tổ chức, đơn vị quản lý di tích ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, phần mềm kế toán và các hình thức thanh toán điện tử phù hợp trong công tác tiếp nhận, quản lý, sử dụng và công khai tiền công đức, tài trợ theo quy định của pháp luật.