Điều 5. Đặt tên, đổi tên, số hiệu đường địa phương
1. Việc đặt tên, đổi tên, số hiệu đường địa phương được thực hiện theo quy định tại Điều 11 Luật Đường bộ số 35/2024/QH15, Điều 8 Nghị định số 165/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đường bộ và Điều 77 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ và các quy định tại Điều này.
2. Đối với đường tỉnh:
a) Số hiệu đường tỉnh: gồm chữ “ĐT.”, sau đó là số tự nhiên của đường cần đặt theo thứ tự từ 201 - 225 (25 số). Ví dụ: ĐT.201, ĐT.202... và chữ cái nếu có.
b) Trường hợp số đường tỉnh vượt quá 25 tuyến thì các tuyến đường bộ đặt tên sau được sử dụng lại các số hiệu đó kèm thêm một chữ cái lần lượt từ A đến Z (ví dụ: ĐT.215, ĐT.215A, ĐT.215B, ĐT.204, ĐT.204A...).
3. Đối với đường đô thị: thực hiện theo điểm đ khoản 2 Điều 8 Nghị định số 165/2024/NĐ-CP và theo Nghị định số 91/2005/NĐ-CP của Chính phủ về việc ban hành quy chế đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng.
4. Đối với đường xã:
a) Đường xã được đặt tên, không bắt buộc đặt số hiệu.
b) Tên đường xã gồm chữ “Đường” kèm theo tên địa danh điểm đầu và điểm cuối hoặc tên theo tập quán địa phương.
c) Tên đường xã do Ủy ban nhân dân cấp xã đề xuất trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định.
5. Sở Xây dựng có trách nhiệm tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định đặt tên, số hiệu cho từng tuyến đường tỉnh, đường xã thuộc phạm vi quản lý của tỉnh.