Điều 12. Thẩm quyền quyết định thanh lý tài sản công là tài sản cố định
1. Sở Tài chính quyết định thanh lý tài sản công là tài sản cố định đối với các trường hợp sau đây:
a) Nhà, đất theo hình thức phá dỡ có nguyên giá theo sổ sách kế toán từ 01 tỷ đồng đến dưới 03 tỷ đồng/01 đơn vị tài sản;
b) Xe ô tô (không bao gồm xe ô tô có nguyên giá dưới 500 triệu đồng/01 đơn vị tài sản tại đơn vị sự nghiệp công lập) có nguyên giá không quá 1,6 tỷ đồng/xe; các loại phương tiện vận tải có nguyên giá từ 500 triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng/01 đơn vị tài sản;
c) Tài sản cố định khác có nguyên giá từ 01 tỷ đồng đến dưới 03 tỷ đồng/01 gói tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc UBND tỉnh (bao gồm cả các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc UBND tỉnh)
2. Đối với các trường hợp không thuộc quy định tại các khoản 1 Điều này, thẩm quyền quyết định thanh lý được phân cấp như sau:
a) Cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc UBND tỉnh quyết định thanh lý đối với tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng và tài sản công thuộc quyền quản lý, sử dụng của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý.
b) Chủ tịch UBND cấp xã quyết định thanh lý đối với tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng và tài sản công thuộc quyền quản lý, sử dụng của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý.
3. Không áp dụng quy định tại Điều này đối với:
Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 59 Nghị định số 186/2025/NĐ-CP.
Tài sản công có nguyên giá dưới 500 triệu đồng/01 đơn vị tài sản, tài sản có giá trị đánh giá lại dưới 50 triệu đồng/01 đơn vị tài sản tại đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 59 Nghị định số 186/2025/NĐ-CP.