vanban.org

Điều 1. Quy định về hỗ trợ đối với hộ kinh doanh sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán quà vật, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký hộ kinh doanh, gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 — Quyết định 51/2021/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/02/2025 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/02/2025 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 09/2025/QĐ-UBND · 21/01/2025
Nam Định Ban hành 26/11/2021 Hiệu lực 26/11/2021 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 4 năm
Quyết định số 51/2021/QĐ-UBND Quy định về hỗ trợ đối với hộ kinh doanh sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký hộ kinh doanh, gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 · 51/2021/QĐ-UBND
15/02/202509/2025/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 26/11/2021Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 51/2021/QĐ-UBND › Điều 1
Đọc toàn văn

Điều 1. Quy định về hỗ trợ đối với hộ kinh doanh sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán quà vật, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký hộ kinh doanh, gặp khó khăn do đại dịch COVID-19

1. Đối tượng hỗ trợ:

a) Hộ kinh doanh sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối có thu nhập thấp không phải đăng ký hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh được quy định tại Điều 79 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/01/2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.

b) Người bán quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký hộ kinh doanh theo quy định tại Điều 79 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP và không gọi là “thương nhân” được quy định tại Điều 3 Nghị định số 39/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ về hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh. Cụ thể:

- Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định.

- Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ.

- Thực hiện các dịch vụ: Đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định.

- Các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác.

2. Điều kiện được hỗ trợ:

Các đối tượng tại khoản 1 Điều này được hỗ trợ khi có đủ các điều kiện sau:

a) Phải dừng hoạt động từ 15 ngày liên tục trở lên do yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của tỉnh Nam Định để phòng chống dịch COVID-19 hoặc do có địa điểm kinh doanh trên địa bàn thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch theo nguyên tắc của Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ hoặc phải áp dụng biện pháp không hoạt động/ngừng hoạt động theo Nghị quyết số 128/NQ-CP của Chính phủ trong thời gian từ ngày 01/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021;

b) Có thu nhập thấp hơn mức thu nhập theo tiêu chí xác định hộ nghèo quy định tại Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27/01/2021 của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021- 2025:

- Khu vực nông thôn: 1.500.000 đồng/người/tháng;

- Khu vực thành thị: 2.000.000 đồng/người/tháng.

c) Cư trú hợp pháp trên địa bàn tỉnh Nam Định (trường hợp tạm trú phải có đăng ký tạm trú được cơ quan công an xác nhận).

d) Người thuộc đối tượng tại khoản 1 Điều này trong cùng một hộ thì được hỗ trợ theo hộ.

đ) Không áp dụng đối với những trường hợp đã được quy định là đối tượng được hỗ trợ theo Quyết định số 30/2021/QĐ-UBND ngày 20/7/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh quy định về hỗ trợ người lao động không có giao kết hợp đồng lao động bị mất việc làm gặp khó khăn do đại dịch COVID-19.

3. Mức hỗ trợ : Hỗ trợ một lần với mức 3.000.000 đồng/hộ (ba triệu đồng/hộ).

4. Thời gian hỗ trợ: Áp dụng từ ngày 01/5/2021 đến ngày 31/12/2021.

5. Nguồn kinh phí thực hiện:

a) Các địa phương chủ động sử dụng nguồn dự phòng ngân sách huyện, xã năm 2021 để thực hiện chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh, người lao động theo quy định tại Quyết định này.

b) Trường hợp 50% nguồn dự phòng ngân sách huyện, xã năm 2021 không đủ để chi phục vụ công tác phòng chống dịch COVID-19, hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 theo các Nghị quyết của Chính phủ và Quyết định của UBND tỉnh; UBND các huyện, thành phố tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh (qua Sở Tài chính) hỗ trợ phần kinh phí còn lại theo quy định.