Điều 5. Khoảng cách giữa các mốc chỉ giới phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi khác
1. Đối với đập quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 Quyết định này, khoảng cách giữa hai mốc liền nhau là 100 m; trường hợp đập gần khu đô thị, khu dân cư tập trung là 50 m.
2. Đối với lòng hồ chứa nước quy định tại điểm b khoản 1 Điều 4 Quyết định này, căn cứ vào phạm vi bảo vệ, hiện trạng công trình, địa hình khu vực cắm mốc và yêu cầu quản lý, khoảng cách giữa 02 mốc liền nhau từ 200 m đến 500 m, khu vực lòng hồ có độ dốc lớn hoặc không có dân cư sinh sống, khoảng cách giữa 02 mốc liền nhau lớn hơn 1.000 m. Tại những điểm chuyển hướng, giao cắt của đường chỉ giới với địa hình, địa vật phải có mốc.
3. Đối với kênh chìm và kênh nổi quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 Quyết định này, căn cứ vào phạm vi bảo vệ, hiện trạng công trình, địa hình khu vực cắm mốc và yêu cầu quản lý, khoảng cách giữa 02 mốc liền nhau từ 200 m đến 300 m, trường hợp gần khu đô thị, dân cư tập trung từ 100 m đến 150 m. Tại những điểm chuyển hướng, giao cắt của đường chỉ giới với địa hình, địa vật phải có mốc.
4. Đối với đường ống dẫn nước quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 Quyết định này, căn cứ vào phạm vi bảo vệ, hiện trạng công trình, địa hình khu vực cắm mốc và yêu cầu quản lý, khoảng cách giữa 02 mốc liền nhau từ 200 m đến 300 m, trường hợp gần khu đô thị, dân cư tập trung từ 100 m đến 150 m. Tại những điểm chuyển hướng, giao cắt của đường chỉ giới với địa hình, địa vật phải có mốc.
5. Đối với hệ thống dẫn, chuyển nước (xi phông, cầu máng, tuynel) quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 4 Quyết định này, khoảng cách giữa hai mốc liền nhau là từ 30 m đến 50 m; trường hợp công trình đi qua khu vực khu đô thị, dân cư tập trung, khoảng cách giữa hai mốc liền nhau là từ 20 m đến 30 m. Tại những điểm chuyển hướng, giao cắt của đường chỉ giới với địa hình, địa vật phải có mốc.