Điều 6. Một số quy định cụ thể về tách thửa các loại đất.
1. Diện tích đất được phép tách thửa theo mức quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 5 của Quyết định số 49/2009/QĐ-UBND không tính phần diện tích đất thuộc hành lang bảo vệ các công trình công cộng. Đối với đất vườn ao liền kề đất ở cùng chung với thửa đất ở, được phép tách thửa theo diện tích tối thiểu được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 đồng thời với việc chuyển mục đích sử dụng đất.
2. Trường hợp người sử dụng đất xin tách thửa đất thành thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu đồng thời với việc xin được hợp thửa đất đó với thửa đất khác liền kề để tạo thành thửa đất mới có diện tích bằng hoặc lớn hơn diện tích tối thiểu được tách thửa thì được phép tách thửa đồng thời với việc hợp thửa và cấp giấy chứng nhận cho thửa đất mới.
3. Thửa đất đang sử dụng được hình thành trước ngày quyết định này có hiệu lực thi hành mà diện tích sử dụng nhỏ hơn diện tích tối thiểu được tách thửa theo quy định này thì vẫn được cấp giấy chứng nhận nếu đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về đất đai.
4. Trường hợp đất ở thuộc các dự án đã được Nhà nước giao đất, phân lô theo quy hoạch được duyệt thì thửa đất được xác định theo dự án và quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt.
5. Thửa đất được hình thành do người sử dụng đất tự tách ra từ thửa đất đang sử dụng kể từ ngày quyết định này có hiệu lực thi hành trở về sau mà thửa đất đó có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu được tách thửa thì không được cấp giấy chứng nhận.
6. Đối với đất nông nghiệp, đất vườn ao liền kề đất ở, đất nông nghiệp xen kẻ trong khu dân cư sau khi tách thửa, việc chuyển mục đích sử dụng đất sang mục đích khác phải căn cứ vào quy hoạch – kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị đã được phê duyệt. Những nơi chưa có quy hoạch – kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn, người sử dụng đất chỉ được chuyển mục đích sử dụng đất tối đa bằng hạn mức đất ở theo quy định đã ban hành.