Điều 2. Tiếp tục thực hiện chính sách trợ giá cho hộ nông dân dùng các giống lúa lai, ngô lai vào sản xuất. Thực hiện trợ giá cho hộ gia đình đưa lợn lạc hậu bị giống ngoại thuần có tỷ lệ nạc cao vào sử dụng giống bò lai Sind phối hợp giống cải tạo đàn bò và chăn nuôi theo phương thức và mức trợ giá như sau:
1. 1. Đối với giống cây:
Hộ nông dân được hưởng trợ gia khi mua giống:
- Đối với các xã đồng bằng: Mức 2.000 đồng/1kg giống lúa lai và 3.500 đồng/ 1kg giống ngô lai.
- Đối với các xã Miền núi: Mức 4.000 đồng/1kg lúa lai, 7.000 đồng/ 1kg giống ngô lai (riêng các giống ngô lai có giá bán < 7.000 đồng/ 1kg thì trợ giá 100%).
1. 2. Đối với giống con:
- Trợ giá cho hộ chăn nuôi lạc hậu bị giống lợn ngoại chuẩn có tỷ lệ nạc cao. Mức trợ giá 12.500 đồng/1kg giống, bằng chênh lệch giữa giống của 1 kg lợn nội và ngoại thuần. Trọng lượng chuẩn của con giống để tính trợ giá từ 15-20kg/con. Đồng thời hỗ trợ chăn nuôi 70% giá trị của 25 kg thức ăn giàu đạm theo giá trị thị trường tại thời điểm cho một con giống trong giai đoạn nuôi ban đầu.
- Trợ giá cho hộ chăn nuôi bò cái sinh sản cho phối giống bằng thụ tinh nhân tạo liều tinh bò lai Sind. Mức trợ giá cho một con bò phối có chửa là 65.000 đồng/1 con (bằng 30% định mức chi phí do Cục khuyến nông quy định). Những vùng không có điều kiện để thực hiện phối giống bằng thụ tinh nhân tạo thì dùng bò đực giống lai Sind có trọng lượng 230 kg trở lên để phối nhảy trực tiếp (một bò đực phối cho 40 bò cái trong thời gian 5 năm). Ngân sách hỗ trợ 80% giá mua bò đực giống.
1. 3. Giao cho Sở tài chính - Vật giá phối hợp vớ Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn căn cứ vào giá trị thị trường tại thời điểm xác định giá bán để tính trợ giá cho người trực tiếp sản xuất (đối với giống cây) và từng kỳ (đối với giống con).