Điều 7. Xem xét, đánh giá tính thống nhất, đồng bộ, tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật
1. Các sở, ban, ngành tỉnh; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố; công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là cơ quan chuyên môn):
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, thường xuyên rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, nếu phát hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực, ngành mình phụ trách không đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, tính khả thi kịp thời kiến nghị hình thức xử lý và lập danh mục theo mẫu số 3 (đối với trường hợp văn bản quy định chi tiết không đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ) theo mẫu số 4 (đối với trường hợp văn bản quy định chi tiết không đảm bảo tính khả thi) được quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 2 Thông tư số 10/2015/TT-BTP ngày 31 tháng 8 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chế độ báo cáo trong quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và theo dõi tình hình thi hành pháp luật, gửi về Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức Tư pháp - Hộ tịch (sau đây gọi là cơ quan tư pháp) để tổng hợp.
2. Cơ quan tư pháp:
Trên cơ sở phân tích, xem xét, tổng hợp các nguồn thông tin được quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 2 Điều 2, khoản 2 Điều 3 Thông tư số 14/2014/TT-BTP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2012 về theo dõi tình hình thi hành pháp luật do các cơ quan, đơn vị gửi về; trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị, cơ quan tư pháp lập danh mục các văn bản quy định chi tiết có nội dung không bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, tính khả thi báo cáo, đề xuất Ủy ban nhân dân cùng cấp để xem xét sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý.