Điều 5. Quản lý và sử dụng tiền phí
1. Việc quản lý và sử dụng tiền phí thu được thực hiện theo quy định tại Điều 11, Điều 12, Điều 13 và Điều 17 Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành pháp lệnh phí, lệ phí; Khoản 5 Điều 1 Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 06 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/2002/NĐ-CP; Thông tư số 63/2002/TT-BTC ngày 24 tháng 7 năm 2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các quy định pháp luật về phí và lệ phí; Thông tư số 45/2006/TT-BTC ngày 25 tháng 5 năm 2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 63/2002/TT-BTC; Thông tư số 02/2014/TT-BTC ngày 02 tháng 01 năm 2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Đơn vị tổ chức thu phải mở tài khoản “tạm giữ tiền phí, lệ phí” tại Kho bạc Nhà nước nơi cơ quan thu đóng trụ sở để theo dõi, quản lý tiền phí thu được. Định kỳ, hàng tuần phải gửi số tiền phí đã thu được vào tài khoản “tạm giữ tiền phí, lệ phí” và phải tổ chức hạch toán riêng khoản thu này theo chế độ kế toán hiện hành của Nhà nước.
2. Đối với chợ được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, phí chợ là khoản thu thuộc ngân sách nhà nước, tổng số tiền thu phí được trích như sau:
a. Đối với chợ thành phố Hà Tĩnh: Trích 80% trên tổng số tiền thu phí cho đơn vị tổ chức thu phí; phần còn lại (20%) nộp vào ngân sách thành phố Hà Tĩnh,
b. Đối với chợ thị xã Hồng Lĩnh: Trích 70% trên tổng số tiền thu phí cho đơn vị tổ chức thu phí; phần còn lại (30%) nộp vào ngân sách thị xã Hồng Lĩnh,
c. Đối với các chợ còn lại trên địa bàn tỉnh: Trích 35% (đối với chợ loại 2); 25% (đối với chợ loại 3) trên tổng số tiền thu phí cho đơn vị thu quản lý, sử dụng; phần còn lại nộp về ngân sách xã, phường, thị trấn theo quy định.