vanban.org

Điều 6. Nội dung và mức hỗ trợ — Quyết định 474/2012/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 05/09/2016 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 05/09/2016 Thay thế: 492/2016/QĐ-UBND · 26/08/2016
Bắc Giang Ban hành 28/12/2012 Hiệu lực 07/01/2013 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 13 năm
Quyết định số 492/2016/QĐ-UBND Quy định quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; các khoản đóng góp và chế độ miễn, giảm đối với người tự nguyện chữa trị, cai nghiện ma túy tại cơ sở điều trị nghiện; người cai nghiện ma túy bắt buộc, tự nguyện tại cộng đồng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang · 492/2016/QĐ-UBND
Quyết định số 474/2012/QĐ-UBND Ban hành quy định quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; chế độ đóng góp và miễn, giảm, hỗ trợ người cai nghiện ma túy tại trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội Tỉnh và tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng trên địa bàn Tỉnh · 474/2012/QĐ-UBND
05/09/2016492/2016/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 07/01/2013Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 474/2012/QĐ-UBND › Chương II › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Nội dung và mức hỗ trợ

Người nghiện ma túy áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm được hỗ trợ các khoản sau:

1. Hỗ trợ một phần tiền ăn với mức 15.000 đồng/người/ngày trong thời gian chấp hành quyết định.

2. Hỗ trợ tiền điều trị trong các trường hợp sau đây:

a) Đối với người nghiện ma túy được hỗ trợ thuốc hỗ trợ cắt cơn, cấp cứu, chi phí xét nghiệm và thuốc điều trị các bệnh cơ hội khác mức 650.000 đồng/người/lần chấp hành quyết định.

b) Trong thời gian chấp hành quyết định hoặc lưu trú tạm thời tại Trung tâm, nếu người nghiện ma túy bị thương do tai nạn lao động được sơ cứu, cấp cứu kịp thời cho đến khi ổn định thương tật. Trường hợp bị ốm nặng hoặc mắc bệnh hiểm nghèo vượt quá khả năng chữa trị của Trung tâm phải chuyển đến bệnh viện của Nhà nước điều trị thì chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong thời gian nằm viện do bản thân hoặc gia đình người đó tự thanh toán. Trường hợp Trung tâm đã tạm ứng thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh thì yêu cầu người sau cai nghiện hoặc gia đình họ bồi hoàn lại. Đối với đối tượng thuộc hộ nghèo, đối tượng là gia đình chính sách theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, người chưa thành niên, người lưu trú tạm thời, người không còn thân nhân được Trung tâm hỗ trợ toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Đối với đối tượng thuộc hộ cận nghèo được Trung tâm hỗ trợ 50% chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp đối tượng có thẻ bảo hiểm y tế còn thời hạn sử dụng được khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm y tế.

3. Hỗ trợ tiền mua sắm vật dụng sinh hoạt cá nhân cần thiết với mức 400.000 đồng/người/năm hoặc lần chấp hành quyết định đối với thời gian chấp hành quyết định dưới 01 năm.

Đối với người lưu trú tạm thời tại Trung tâm được sử dụng quần áo, chăn, màn của cá nhân. Trường hợp người lưu trú tạm thời thiếu quần áo, chăn, màn thì Trung tâm cho người lưu trú tạm thời mượn.

Đối với người chưa thành niên được cấp vật dụng cá nhân bằng hiện vật như sau: Được nằm riêng giường hoặc mặt sàn bằng gỗ, có chiếu, màn. Mỗi người được cấp một chăn bông nặng hai kilôgam và một áo ấm. Hàng năm, mỗi người được cấp hai chiếc chiếu, hai bộ quần áo dài, một bộ quần áo đồng phục, hai bộ quần áo lót, hai khăn mặt, hai đôi dép nhựa, hai bàn chải đánh răng, một áo mưa ni lông, một chiếc mũ cứng. Hàng quý, mỗi người được cấp một tuýp thuốc đánh răng 90 gam và một kilôgam xà phòng.

4. Chi phí hoạt động văn thể: Mức 50.000 đồng/người/năm hoặc lần chấp hành quyết định đối với đối tượng thời gian chấp hành quyết định dưới 01 năm.

5. Tiền học văn hóa và giáo dục phục hồi hành vi, nhân cách: 350.000 đồng/người/năm.

6. Hỗ trợ chi phí học nghề với mức tối đa là: 2.000.000 đồng/người/khóa học trình độ sơ cấp nghề cho những đối tượng chưa qua đào tạo nghề, có nhu cầu học nghề. Căn cứ vào trình độ và năng lực của từng đối tượng, điều kiện về cơ sở vật chất của Trung tâm và tình hình thực tế, Giám đốc Trung tâm quyết định hình thức học nghề cho phù hợp với hình thức hỗ trợ như sau:

a) Học nghề do Trung tâm trực tiếp tổ chức thì Trung tâm được chi các nội dung sau: Khai giảng, bế giảng, cấp chứng chỉ nghề; mua tài liệu, giáo trình học nghề; thù lao giáo viên dạy lý thuyết và giáo viên hướng dẫn thực hành nghề; hỗ trợ nguyên, nhiên, vật liệu học nghề; chỉnh sửa, biên soạn lại chương trình, giáo trình (nếu có); chi phí điện, nước, phục vụ lớp học; sửa chữa tài sản, thiết bị dạy nghề; chi thuê thiết bị dạy nghề (nếu có); chi cho công tác quản lý lớp học không quá 5% tổng kinh phí cho lớp đào tạo.

b) Trường hợp học nghề bên ngoài Trung tâm thì Trung tâm xét hỗ trợ kinh phí học nghề ngắn hạn cho người bị áp dụng bằng biện pháp đưa vào Trung tâm đóng học phí phù hợp với từng nghề.

c) Không hỗ trợ chi phí học nghề cho những đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm từ lần thứ 2 trở đi.

7. Tiền vệ sinh phụ nữ: 20.000 đồng/người/tháng.

8. Chi phí điện, nước sinh hoạt: 70.000 đồng/người/tháng.

9. Tiền ăn đường, tiền tàu xe: Người bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm sau khi chấp hành xong quyết định được trở về cộng đồng; trường hợp gia đình có hoàn cảnh khó khăn hoặc bản thân không có thu nhập từ kết quả lao động tại Trung tâm và địa chỉ nơi cư trú đã được xác định rõ ràng thì khi trở về nơi cư trú được trợ cấp các khoản sau:

- Tiền ăn là 40.000 đồng/người/ngày trong những ngày đi đường, tối đa không quá 5 ngày.

- Tiền tàu xe theo giá phương tiện công cộng phổ thông.

10. Hỗ trợ kinh phí tìm việc làm: Thực hiện theo Quyết định số 514/2011/QĐ- UBND ngày 30/12/2011 của UBND tỉnh (sau đây gọi tắt là Quyết định 514/2011/QĐ-UBND) về việc ban hành quy định chế độ hỗ trợ đối với người sau cai nghiện tại nơi cư trú; chế độ đóng góp và miễn giảm đối với người sau cai nghiện tại Trung tâm Giáo dục

- Lao động xã hội tỉnh.

- Người bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm khi chấp hành xong quyết định mà vẫn ở độ tuổi chưa thành niên thì không được khoản trợ cấp này.

11. Tiền mai táng: Người bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm, người lưu trú tạm thời đang chữa trị, cai nghiện bị chết tại Trung tâm mà không còn thân nhân hoặc thân nhân không đến kịp hoăc chết do tai nạn lao động, Trung tâm có trách nhiệm mai táng. Mức mai táng phí là 3.000.000 đồng/người. Trong trường hợp cần trưng cầu giám định pháp y để xác nhận nguyên nhân chết, Trung tâm thanh toán chi phí giám định pháp y theo quy định hiện hành của Nhà nước.

12. Đối với người bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm, người tự nguyện, người lưu trú tạm thời tại Trung tâm bị nhiễm HIV/AIDS được trợ cấp thêm tiền thuốc chữa bệnh, tiền mua sắm các vật dụng phòng, chống lây nhiễm HIV và các khoản chi hỗ trợ khác (trừ tiền ăn, tiền thuốc chữa trị và cai nghiện) theo quy định tại Quyết định số 96/2007/QĐ-TTg ngày 28/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý, chăm sóc, tư vấn điều trị cho người nhiễm HIV và phòng lây nhiễm HIV tại các cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, Trung tâm, cơ sở bảo trợ xã hội, trại giam, trại tạm giam và các văn bản hướng dẫn Quyết định.