vanban.org

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch nhà hàng karaoke, vũ trường trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. — Quyết định 470/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 31/12/2010 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Tuyên Quang Ban hành 31/12/2010 Hiệu lực 31/12/2010 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 470/QĐ-UBND › Điều 1
Đọc toàn văn

Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch nhà hàng karaoke, vũ trường trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đến năm 2015, định hướng đến năm 2020.

I. Quan điểm quy hoạch

1. Quy hoạch nhà hàng karaoke, vũ trường phải phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo hướng văn minh, hiện đại và hội nhập quốc tế, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ văn hoá, giải trí lành mạnh của nhân dân.

2. Tạo sự thống nhất giữa các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng để quản lý chặt chẽ hoạt động karaoke, vũ trường ở từng địa phương; đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội.

II. Định hướng quy hoạch

1. Đối với các cơ sở hoạt động karaoke, vũ trường thực hiện nghiêm các điều kiện về tiêu chuẩn và chấp hành tốt các quy định tại Nghị định số 103/2009/NĐ-CP của Chính phủ, được tiếp tục hoạt động kinh doanh.

2. Các cơ sở kinh doanh karaoke, vũ trường đã được cấp giấy phép kinh doanh nhưng trong quá trình hoạt động có vi phạm các quy định của Nhà nước, tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.

3. Khuyến khích phát triển các cơ sở hoạt động kinh doanh karaoke có quy mô đầu tư lớn, đảm bảo điều kiện hoạt động theo các tiêu chí quy định tại Nghị định 103/2009/NĐ-CP của Chính phủ.

III. Đối tượng quy hoạch

- Quy hoạch này áp dụng cho tất cả các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh karaoke, vũ trường; cơ sở lưu trú du lịch được công nhận xếp hạng sao hoặc hạng cao cấp có kinh doanh karaoke, vũ trường trên địa bàn tỉnh.

- Các khách sạn, khu du lịch, khu vui chơi giải trí, câu lạc bộ, nhà văn hóa, trung tâm văn hóa và các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh karaoke, vũ trường (hoạt động karaoke ở các hộ gia đình, các cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, câu lạc bộ khiêu vũ phục vụ nội bộ không có mục đích kinh doanh không thuộc phạm vị điều chỉnh của Quy hoạch này).

IV- Mục tiêu quy hoạch

1. Mục tiêu chung

- Quy hoạch nhà hàng karaoke, vũ trường phải phù hợp với các quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực đã được phê duyệt; thực hiện nghiêm túc các quy định hiện hành của Nhà nước về kinh doanh hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa, đáp ứng nhu cầu về đời sống văn hóa, tinh thần của xã hội; tạo môi trường văn hóa lành mạnh phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.

- Đảm bảo các điều kiện kinh doanh nhà hàng karaoke, vũ trường theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP của Chính phủ. Tạo điều kiện cho công tác quản lý Nhà nước thuận lợi, chặt chẽ, ngăn chặn kịp thời mọi hành vi lợi dụng kinh doanh dịch vụ văn hóa để làm ăn phi pháp, dẫn đến các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến môi trường văn hóa.

2. Mục tiêu cụ thể

2.1. Quy hoạch karaoke

2.1.1 . Thành phố Tuyên Quang

a)  Giai đoạn 2010- 2015:  Quy hoạch 120 cơ sở.

b) Giai đoạn 2015- 2020:  Quy hoạch  160  cơ sở.

2.1.2. Huyện Sơn Dương

a)  Giai đoạn 2010-  2015: Quy hoạch 102 cơ sở.

b) Giai đoạn 2015 -2020: Quy hoạch 135 cơ sở.

2.1.3. Huyện Yên Sơn

a) Giai đoạn 2010 - 2015: Quy hoạch 95 cơ sở.

b) Giai đoạn 2015 - 2020: Quy hoạch 130 cơ sở.

2.1.4. Huyện Hàm Yên

a) Giai đoạn 2010- 2015: Quy hoạch 76 cơ sở.

b) Giai đoạn 2015 - 2020: Quy hoạch 103 cơ sở.

2.1.5. Huyện Chiêm Hóa

a) Giai đoạn 2010-2015: Quy hoạch 87 cơ sở.

b) Giai đoạn 2015- 2020:  Quy hoạch 122 cơ sở.

2.1.6. Huyện Na Hang

a) Giai đoạn 2010-  2015: Quy hoạch 69 cơ sở.

b) Giai đoạn 2015 - 2020 :  Quy hoạch  95 cơ sở.

2.2. Quy hoạch vũ trường

- Giai đoạn 2010 - 2015: Thành phố Tuyên Quang xây dựng từ  01 đến 02 vũ trường; các huyện khác tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng huyện có thể xây dựng 01 vũ trường.

- Giai đoạn 2016 - 2020: Thành phố Tuyên Quang có không quá 04 vũ trường, huyện Na Hang có không quá 02 vũ trường (trung tâm huyện 1 cơ sở, khu du lịch sinh thái hồ thủy điện 1 cơ sở); các huyện còn lại có không quá 01 vũ trường (huyện nào đã xây dựng trong giai đoạn 2010 - 2015 thì không xây dựng tiếp).

3. Tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh và hoạt động kinh doanh karaoke, vũ trường

3.1. Tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh và hoạt động kinh doanh karaoke

- Cơ sở lưu trú du lịch đã được xếp hạng sao hoặc hạng cao cấp khi kinh doanh karaoke không phải xin giấy phép kinh doanh theo quy định tại khoản 3, Điều 66 của Luật Du lịch năm 2005, nhưng phải có đủ điều kiện quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6, Điều 30, Quy chế hoạt động văn hóa kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP của Chính phủ.

- Đối với nhà hàng karaoke, phòng hát phải có diện tích 20m2 trở lên, (không bao gồm cả công trình phụ); đảm bảo cách âm, phòng chống cháy nổ và an ninh trật tự. Cửa phòng karaoke phải là cửa kính không màu; nếu có khung thì không được quá hai khung dọc và ba khung ngang; diện tích khung không quá 15% diện tích cửa; không được đặt khoá, chốt cửa bên trong hoặc đặt thiết bị báo động để đối phó với hoạt động kiểm tra của các cơ quan quản lý.

- Địa điểm kinh doanh karaoke phải cách trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức chính trị -xã hội, doanh trại quân đội, công an, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, di tích lịch sử - văn hóa đã được xếp hạng hoặc đã được phát hiện, đang lập hồ sơ đề nghị xếp hạng từ 200m trở lên.

- Địa điểm kinh doanh karaoke trong khu dân cư phải được sự đồng ý bằng văn bản của các hộ liền kề; phải có đường giao thông thuận lợi phục vụ công tác kiểm tra và công tác phòng cháy, chữa cháy.

- Âm thanh vang ra ngoài phòng karaoke không vượt quá quy định của Nhà nước về tiêu chuẩn mức ồn tối đa cho phép (tiêu chuẩn Việt Nam số 5949/1995) được đo tại phía ngoài cửa sổ và cửa ra vào phòng karaoke.

- Nhà hàng karaoke có nhiều phòng thì phải đánh số thứ tự hoặc đặt tên cho từng phòng.

- Cơ sở kinh doanh dịch vụ tổ chức hoạt động karaoke tại nơi kinh doanh phục vụ nhu cầu của nhân viên thuộc cơ sở mình thì không phải xin phép, nhưng phải riêng biệt với khu vực kinh doanh; không được kinh doanh cho khách vào hát karaoke tại nơi dành cho nhân viên thuộc cơ sở mình.

- Cơ sở kinh doanh dịch vụ tổ chức hoạt động karaoke tại nơi kinh doanh phục vụ nhu cầu của khách dù không thu riêng tiền dịch vụ karaoke mà chỉ thu tiền ăn, uống hoặc dịch vụ khác tại phòng hát karaoke cũng phải có đủ điều kiện kinh doanh karaoke quy định và phải được cấp giấy phép theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP của Chính phủ.

- Khi hoạt động kinh doanh karaoke, chủ cơ sở kinh doanh phải tuân thủ các quy định tại Điều 32 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản quy định hiện hành của pháp luật.

- Phải có nội quy hoạt động và niêm yết công khai giá, kể cả giá các dịch vụ khác kèm karaoke. 

3.2. Tiêu chuẩn, điều kiện kinh doanh và hoạt động kinh doanh vũ trường

- Nhà văn hoá, trung tâm văn hoá đề nghị cấp giấy phép kinh doanh vũ trường phải là pháp nhân theo quy định tại Điều 84, Bộ luật Dân sự năm 2005.

- Địa điểm kinh doanh vũ trường cách trường học, bệnh viện, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, di tích lịch sử - văn hóa, cơ quan hành chính nhà nước từ 200m trở lên (đo theo đường giao thông).

- Người điều hành trực tiếp tại phòng khiêu vũ phải có trình độ trung cấp chuyên ngành văn hóa - nghệ thuật trở lên (bao gồm các ngành nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, điện ảnh, văn hóa quần chúng, quản lý văn hóa).

- Âm thanh vang ra ngoài phòng khiêu vũ không vượt quá quy định của Nhà nước về tiêu chuẩn mức ồn tối đa cho phép (quy định tại khoản 3 Điều 27 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP của Chính phủ) được đo tại phía ngoài cửa sổ và cửa ra vào phòng khiêu vũ.

- Trang thiết bị, phương tiện hoạt động trực tiếp tại phòng khiêu vũ phải đảm bảo chất lượng âm thanh và các yêu cầu kỹ thuật khác.

- Phù hợp với quy hoạch tổng thể của từng địa phương.

- Chỉ những cơ sở có đủ điều kiện quy định tại Điều 24 và khoản 1 Điều 25 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP của Chính phủ mới được phép kinh doanh vũ trường.

- Khi hoạt động kinh doanh vũ trường, chủ kinh doanh vũ trường phải tuân thủ các quy định tại Điều 27 Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa ban hành kèm theo Nghị định số 103/2009/NĐ-CP của Chính phủ và các văn bản quy định hiện hành của pháp luật.

3.3. Quy trình thủ tục cấp phép

Căn cứ Nghị định số 103/2009/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 04/2009/TT-BVHTTDL ngày 16 tháng 12 năm 2009 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cơ quan có thẩm quyền xem xét việc cấp phép mới hoặc cấp đổi giấy phép kinh doanh đối với các cơ sở hoạt động kinh doanh karaoke và vũ trường.

3.4. Thẩm quyền cấp phép kinh doanh

- Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cấp giấy phép hoạt động kinh doanh karaoke, vũ trường trên địa bàn toàn tỉnh.

- Uỷ ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo Phòng văn hóa và Thông tin hướng dẫn thủ tục đăng ký và tiến hành thẩm định tiêu chuẩn điều kiện cơ sở karaoke, vũ trường đề nghị Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cấp giấy phép theo quy định.

IV. Giải pháp thực hiện

1. Quy hoạch các địa điểm kinh doanh nhà hàng karaoke, vũ trường trên địa bàn huyện, thành phố phù hợp với điều kiện thực tế và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020 và các quy hoạch ngành, lĩnh vực có liên quan.

2. Đảm bảo các điều kiện kinh doanh nhà hàng karaoke, vũ trường đúng theo Nghị định số 103/NĐ-CP của Chính phủ; đến năm 2020 có 100% các nhà hàng karaoke, vũ trường hoạt động đúng Quy hoạch đã xây dựng.

3. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật tới các cá nhân, đơn vị hoạt động kinh doanh nhà hàng karaoke, vũ trường; tiếp tục tuyên truyền sâu rộng Chỉ thị 17/2005/CT-TTg ngày 25/05/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh các hoạt động tiêu cực trong quán bar, nhà hàng karaoke, vũ trường nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cơ sở kinh doanh về thực hiện pháp luật, xây dựng môi trường kinh doanh văn hoá lành mạnh.

4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các dịch vụ kinh doanh nhà hàng karaoke, vũ trường, chú trọng kiểm tra đột xuất để có biện pháp ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm những cơ sở có hành vi vi phạm trong hoạt động kinh doanh karaoke, vũ trường.

5. Các sở, ban, ngành, đoàn thể vận động quần chúng nhân dân tham gia phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động tiêu cực trong hoạt động nhà hàng karaoke, vũ trường. Thiết lập đường dây nóng để nhân dân thuận lợi trong việc phát giác, báo cáo với các cơ quan quản lý Nhà nước về những vi phạm trong hoạt động này để kịp thời xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

6. Tăng cường phương tiện, trang thiết bị cho công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý nhà nước đối với các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, bố trí kinh phí cho hoạt động thanh tra, kiểm tra.

7. Thực hiện xã hội hóa các hoạt động văn hóa, kinh doanh dịch vụ văn hóa, khuyến khích và thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài để xây dựng các công trình văn hóa, phát triển các loại hình kinh doanh dịch vụ văn hóa phong phú, đa dạng, chất lượng cao, hạn chế các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hóa không đảm bảo về cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương tiện phục vụ.