Điều 8. Tổ chức thẩm định và nội dung đánh giá công nghệ
1. Trên cơ sở hồ sơ hợp lệ, Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì tổ chức thẩm định, đánh giá công nghệ chuyển giao theo tính chất, quy mô, mức độ phức tạp và yêu cầu chuyên môn của từng trường hợp.
2. Việc thẩm định, đánh giá được thực hiện thông qua một hoặc kết hợp các hình thức sau:
a) Thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định;
b) Lấy ý kiến chuyên gia, tổ chức tư vấn độc lập;
c) Lấy ý kiến các sở, ban, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức có liên quan đối với các nội dung thuộc phạm vi quản lý chuyên ngành.
3. Việc lựa chọn hình thức thẩm định, đánh giá phải bảo đảm khách quan, khoa học, phù hợp với tính chất của công nghệ chuyển giao; đồng thời bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, an toàn thông tin, an ninh mạng, bảo vệ môi trường và các quy định pháp luật khác có liên quan.
a) Lấy ý kiến bằng văn bản: Sở Khoa học và Công nghệ gửi hồ sơ đến các sở, ban, ngành và địa phương liên quan. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, các cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản.
b) Thành lập Hội đồng thẩm định: Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định thành lập, Hội đồng phải tổ chức họp và ra kết luận thẩm định.
4. Hội đồng thẩm định công nghệ có từ 07 đến 11 thành viên (đảm bảo tổng số thành viên là số lẻ), bao gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch (nếu cần), Thư ký và các ủy viên. Thành phần bắt buộc phải có đại diện Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài chính, Công an tỉnh và các chuyên gia am hiểu sâu về lĩnh vực công nghệ tương ứng. Hội đồng họp khi có mặt ít nhất 2/3 số thành viên và thông qua quyết định khi có từ 3/4 số thành viên có mặt đồng ý.
5. Nội dung đánh giá công nghệ: Mức độ tiên tiến, tính phù hợp với thực tế địa phương; khả năng tích hợp hạ tầng số; hiệu quả kinh tế - xã hội; khả năng làm chủ công nghệ; và các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, bảo vệ môi trường.