Điều 7. Quản lý hoạt động của các hội
1. Các tổ chức quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Quy định này là các tổ chức hội có tư cách pháp nhân, hoạt động theo điều lệ, nghị quyết của hội và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.
2. Các hội được phân định trên cơ sở phạm vi hoạt động theo vùng lãnh thổ đơn vị hành chính, không phân biệt hội cấp trên và hội cấp dưới, không nhất thiết tổ chức hội thành hệ thống từ thành phố đến cấp xã.
3. Quan hệ giữa các hội trong quá trình hoạt động: Hội có phạm vi hoạt động trong phạm vi xã không phụ thuộc hay chịu sự chỉ đạo của hội có phạm vi hoạt động trong thành phố Đà Nẵng (về cơ cấu tổ chức của hội, quản lý, điều hành hội và thực hiện nhiệm vụ của hội).
4. Hội được thành lập các tổ chức thuộc hội theo quy định của pháp luật; chi nhánh, văn phòng đại diện, liên chi hội, chi hội, phân hội, tổ hội thuộc hội (sau đây viết tắt là các tổ chức thuộc hội) theo quy định của điều lệ hội đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Việc thành lập các tổ chức thuộc hội được thực hiện theo quy định tại Điều 25 Nghị định số 126/2024/NĐ-CP.
5. Khen thưởng, kỷ luật và giải quyết phản ánh, kiến nghị, tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm liên quan đến hội thực hiện theo quy định tại các Điều 28, 29 và 30 của Nghị định số 126/2024/NĐ-CP.
6. Các mẫu văn bản áp dụng cho các hội, công dân, tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước về hội được thực hiện theo quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định số 126/2024/NĐ-CP.
7. Trường hợp hội không tuân thủ các quy định của pháp luật về hội, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm của hội, các Sở, ban, ngành có thẩm quyền quản lý về ngành, lĩnh vực chính mà hội hoạt động chịu trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố (qua Sở Nội vụ); các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.