Điều 12. Tổ chức thanh tra, kiểm tra hoạt động khoáng sản và công tác quản lý Nhà nước về khoáng sản tại các địa phương
1. Việc thanh tra, kiểm tra hoạt động khoáng sản thực hiện theo kế hoạch hàng năm của từng ngành và theo chuyên đề từng nhóm loại khoáng sản, loại hình mỏ hoặc theo địa bàn quản lý, tùy vào tình hình thực tiễn; việc thanh tra, kiểm tra được thống nhất và phối hợp thực hiện không thực hiện riêng lẻ từng cơ quan, trừ trường hợp có ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh hoặc các cơ quan cấp trên.
2. Hàng năm, các Sở, ban, ngành cấp tỉnh phải xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra hoạt động khoáng sản của tổ chức cá nhân và kiểm tra đánh giá công tác quản lý Nhà nước về khoáng sản tại các địa phương theo lĩnh vực của ngành nhưng không quá một lần trên năm, trừ trường hợp có đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh của tổ chức, công dân hoặc đột xuất được cấp có thẩm quyền giao.
3. Trong quá trình thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch, phát hiện vi phạm thuộc lĩnh vực ngành khác quản lý thì cơ quan chủ trì có trách nhiệm chuyển hồ sơ, tài liệu cho ngành đó xử lý hoặc tham mưu cơ quan có thẩm quyền xử lý, cơ quan theo chuyên ngành quản lý hoặc cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, tài liệu có liên quan và chịu trách nhiệm xem xét xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật.
Các Sở, ban, ngành cấp tỉnh khi phát hiện các sai phạm, vi phạm hoặc buông lỏng trong công tác quản lý Nhà nước về khoáng sản tại các địa phương theo chuyên ngành quản lý, phải có trách nhiệm kịp thời báo cáo và tham mưu UBND tỉnh xử lý trách nhiệm tổ chức, cá nhân vi phạm theo quy định hiện hành.
Trường hợp cần thành lập Đoàn thanh tra, kiểm tra liên ngành thì các Sở, ban, ngành phải đề xuất đến Sở Tài nguyên và Môi trường để tổng hợp, trình UBND tỉnh quyết định.
4. Cơ quan, đơn vị có liên quan và UBND các cấp chịu trách nhiệm xử lý vi phạm theo thẩm quyền được quy định của pháp luật.
5. Người có thẩm quyền lập biên bản quy định chịu trách nhiệm lập biên bản hành chính về những vi phạm hành chính thuộc phạm vi thi hành công vụ, nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về việc lập biên bản theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi phạm hành chính trong cùng một vụ vi phạm hoặc vi phạm nhiều lần thì biên bản xử phạt phải thể hiện đầy đủ các hành vi vi phạm hoặc số lần vi phạm.
7. Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị lập biên bản một lần. Nếu một hành vi vi phạm hành chính đã bị lập biên bản thì không lập biên bản lần thứ hai đối với chính hành vi đó.
Trường hợp hành vi vi phạm đã bị lập biên bản mà sau đó cá nhân, tổ chức vẫn tiếp tục thực hiện, mặc dù người có thẩm quyền xử phạt đã buộc chấm dứt hành vi vi phạm, thì khi ra quyết định xử phạt đối với hành vi đó, người có thẩm quyền áp dụng thêm tình tiết tăng nặng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.