Điều 7. Thu hồi quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý
1. Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý bị thu hồi, nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Không tổ chức sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý liên tục từ 2 (hai) năm trở lên kể từ ngày được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý;
b) Sản phẩm không đáp ứng điều kiện bảo hộ;
c) Chuyển giao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho tổ chức, cá nhân khác.
d) Sử dụng tem chỉ dẫn địa lý không đúng qui định;
đ) Tổ chức bị giải thể hoặc phá sản;
e) Tổ chức, cá nhân tự nguyện chấm dứt việc sử dụng chỉ dẫn địa lý;
f) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị toà án cấm hành nghề kinh doanh.
2. Trình tự, thủ tục thu hồi
a) Trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ kể từ khi Sở Khoa học và Công nghệ hoặc cơ quan chức năng phát hiện vi phạm, Sở Khoa học và Công nghệ phải tổ chức kiểm tra để ra quyết định thu hồi hoặc từ chối thu hồi quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý;
b) Trong thời hạn 5 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi, tổ chức, cá nhân bị thu hồi phải nộp Giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý và số tem chỉ dẫn địa lý chưa sử dụng về Sở Khoa học và Công nghệ;
c) Trường hợp cá nhân bị thu hồi thuộc đối tượng quy định tại điểm f khoản 1 Điều 7 của quy định này thì chậm nhất 05 ngày Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với UBND cấp xã, nơi người đó tổ chức sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý và số tem chỉ dẫn địa lý chưa sử dụng;
d) Trong thời hạn 03 (ba) ngày, kể từ ngày quyết định thu hồi có hiệu lực, Sở Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm công bố danh sách tổ chức, cá nhân bị thu hồi trên Báo Bắc Giang, các phương tiện thông tin đại chúng khác;
đ) Tổ chức, cá nhân bị thu hồi quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý do vi phạm một trong các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 7, Quy định này, thì sau 2 (hai) năm kể từ ngày có quyết định thu hồi, mới được xét, để trao lại quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý; hồ sơ, trình tự, thủ tục trao lại được áp dụng như trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý lần đầu.