Điều 11. Mức thu, quản lý và sử dụng tiền học thêm
1. Mức thu
a) Đối với học thêm trong nhà trường: Do thỏa thuận giữa cha mẹ học sinh với nhà trường.
b) Đối với học thêm ngoài nhà trường: Do thỏa thuận giữa cha mẹ học sinh với tổ chức, cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm.
c) Khuyến khích các nhà trường, tổ chức, cá nhân thực hiện việc miễn, giảm tiền học thêm cho con gia đình chính sách, gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
2. Quản lý và sử dụng
a) Đối với học thêm trong nhà trường: Mở sổ sách kế toán theo dõi phản ánh việc thu, chi tiền học thêm. Khi thu tiền học của người học thêm phải ghi phiếu thu, có chữ ký của người học hoặc chữ ký của cha mẹ học sinh trong phiếu thu. Tiền học thêm dùng để chi theo các nội dung: 75% chi giáo viên trực tiếp dạy thêm, 5% chi công tác quản lý dạy thêm, học thêm (bao gồm người tham gia quản lý, người phục vụ, bảo vệ); 10% chi cơ sở vật chất (tiền điện, nước và hao mòn tài sản); 10% chuyển vào quỹ phúc lợi của đơn vị để chi chung (hỗ trợ, tài trợ, khuyến học, khuyến tài..). Mức chi cụ thể phải được thông qua Hội đồng trường và tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường, đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch; được thể hiện chi tiết trong quy chế chi tiêu nội bộ hàng năm của nhà trường.
b) Đối với học thêm ngoài nhà trường: Có sổ quản lý việc thu, chi tiền học thêm và danh sách có chữ ký của người nộp tiền. Tiền học thêm thu được dùng để chi phí cho người dạy (theo thỏa thuận), chi phí cho công tác quản lý, chi phí cho việc thuê, mượn hoặc đầu tư cơ sở vật chất và các khoản chi phí khác (hỗ trợ, tài trợ, khuyến học, khuyến tài...).
c) Tổ chức, cá nhân dạy thêm có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ tài chính, thuế theo quy định.
d) Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tổ chức hoạt động dạy thêm, học thêm đóng góp vào các hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi, phong trào khuyến học, đầu tư cho giáo dục của địa phương.