Điều 5. Quy định về mức bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển tài sản
1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển tài sản thì được Nhà nước bồi thường chi phí để tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt; trường hợp phải di chuyển hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất còn được bồi thường đối với thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt.
2. Căn cứ tài sản thực tế phải tháo dỡ, di chuyển lắp đặt: Đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư xác định chi phí tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt hoặc phối hợp với chủ dự án liên hệ với tổ chức tư vấn có chức năng để xác định chi phí tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt, báo cáo Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án xem xét, thống nhất để làm cơ sở trình Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định mức bồi thường chi phí để tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt tải sản theo quy định.
Trường hợp phải di chuyển hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất: Đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phối hợp với chủ dự án thống kế các chi phí liên quan khác đối với thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt, báo cáo Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án xem xét, thống nhất để làm cơ sở trình Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định mức hỗ trợ, bồi thường.
3. Căn cứ tài sản thực tế gắn liền với đất là phần công trình xây dựng theo giấy phép xây dựng thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP của Chính phủ: Đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ tái định cư xác định chi phí tháo dỡ, phá dỡ, di dời hoặc phối hợp với chủ dự án liên hệ với tổ chức tư vấn có chức năng để xác định chi phí tháo dỡ, phá dỡ, di dời, báo cáo Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án xem xét, thống nhất trình Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định mức hỗ trợ tháo dỡ, phá dỡ, di dời theo quy định.
4. Đối với tài sản nhà, nhà ở, công trình xây dựng đã được bồi thường thì không được tính chi phí tháo dỡ, di chuyển.