vanban.org

Điều 14. Xử lý tài sản khi thực hiện cưỡng chế — Quyết định 45/2021/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 19/08/2024
Tiền Giang Ban hành 01/11/2021 Hiệu lực 15/11/2021 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 45/2021/QĐ-UBND › Chương II › Điều 14
Đọc toàn văn

Điều 14. Xử lý tài sản khi thực hiện cưỡng chế

Trường hợp trên đất có tài sản mà chủ sở hữu tài sản không tự nguyện chuyển tài sản ra khỏi khu đất cưỡng chế thì xử lý như sau:

1. Đối với tài sản bảo quản được, Ban thực hiện cưỡng chế lập biên bản ghi rõ thời gian, địa điểm tổ chức cưỡng chế; biên bản gồm có người bị cưỡng chế; người chứng kiến; đại diện Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã; Trưởng khu dân cư (ấp, khu phố) nơi có đất tranh chấp; tổ chức, cá nhân được giao trông giữ, bảo quản; nội dung biên bản phải thể hiện số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản trước khi niêm phong, hình thức vận chuyển, giao cho tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện để trông giữ, bảo quản hoặc bàn giao tài sản cho Ủy ban nhân dân cấp xã để trông giữ, bảo quản tài sản theo quy định của pháp luật; địa điểm, thời gian để chủ sở hữu tài sản nhận lại tài sản. Chủ sở hữu tài sản phải chịu các chi phí vận chuyển, trông giữ, bảo quản tài sản. Biên bản xử lý tài sản phải được người bị cưỡng chế ký; trường hợp người bị cưỡng chế không ký phải nêu rõ lý do.

Trên cơ sở biên bản xử lý tài sản, người có thẩm quyền cưỡng chế ban hành thông báo nhận lại tài sản. Việc giao, nhận thông báo phải ghi rõ thời gian giao, nhận, có ký tên của người giao và chủ sở hữu tài sản; trường hợp chủ sở hữu tài sản không ký nhận thông báo thì phải ghi rõ lý do vào trong biên bản.

Quá thời hạn sáu (06) tháng, kể từ ngày chủ sở hữu tài sản nhận được thông báo nhận lại tài sản hoặc kể từ ngày niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã nơi có đất tranh chấp (trong trường hợp chủ sở hữu tài sản từ chối việc nhận và ký nhận thông báo) mà chủ sở hữu tài sản không đến nhận (trừ trường hợp có lý do chính đáng) thì Ủy ban nhân dân cấp huyện đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh cho chủ trương được bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật. Số tiền thu được sau khi trừ các chi phí cho việc vận chuyển, trông giữ, bảo quản tài sản sẽ được gửi tiết kiệm loại không kỳ hạn tại ngân hàng và thông báo cho chủ sở hữu tài sản biết để nhận khoản tiền đó. Đối với tài sản hư hỏng và không còn giá trị sử dụng thì tổ chức tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

2. Đối với tài sản không bảo quản được, dễ bị hư hỏng, Ban thực hiện cưỡng chế thông báo cho chủ sở hữu tài sản nhận ngay sau khi tiến hành cưỡng chế; nếu chủ sở hữu tài sản từ chối nhận tài sản, Ban thực hiện cưỡng chế chủ trì, phối hợp với cơ quan tài chính hoặc tổ chức do Ủy ban nhân dân cấp huyện thành lập có chức năng về việc thanh lý tài sản tiến hành kiểm kê, tổ chức bán ngay các loại tài sản này. Việc xác định tài sản không bảo quản được, dễ bị hư hỏng thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hiện hành và pháp luật có liên quan.

Việc kiểm kê và bán tài sản phải lập thành biên bản gồm các nội dung: thành phần tham gia kiểm kê bán tài sản; đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, người chứng kiến, tên và địa chỉ đơn vị thu mua tài sản, chủ sở hữu tài sản, tổng số lượng bán được; biên bản phải có chữ ký của thành phần bán tài sản, chủ sở hữu tài sản (nếu có), đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã, người chứng kiến, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và Trưởng khu dân cư (ấp, khu phố) nơi có đất tranh chấp, người mua tài sản. Số tiền thu được, sau khi trừ các khoản chi phí xử lý tài sản sẽ được gửi tiết kiệm loại không kỳ hạn tại ngân hàng và thông báo cho chủ sở hữu tài sản biết để nhận khoản tiền đó.