Điều 4. Quy định về hoạt động đo đạc và bản đồ
1. Việc đo đạc, chỉnh lý bản đồ địa chính phải gắn với công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính; công tác kiểm kê, lập phương án bồi thường; thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất.
2. Trường hợp do tính cấp thiết của dự án phải thực hiện ngay việc thu hồi đất, giao đất để triển khai thi công, nhưng trong quá trình kiểm kê, lập phương án bồi thường chưa hoàn thiện cho cả dự án, thì các thửa đất đủ điều kiện lập thủ tục thu hồi đất, giao đất được biên tập phân biệt màu riêng để thẩm định bản đồ phục vụ thu hồi đất theo từng đợt. Trường hợp này, UBND tỉnh có ý kiến thống nhất; trên cơ sở đó, UBND cấp huyện hoặc phòng Tài nguyên và Môi trường có Công văn đề nghị thẩm định bản đồ theo từng đợt, gửi Sở Tài nguyên và Môi trường xem xét thẩm định để đảm bảo thời gian thực hiện dự án.
3. Tất cả các trường hợp trích đo, chỉnh lý, trích lục bản đồ địa chính thửa đất, khu đất để lập thủ tục phê duyệt phương án bồi thường, thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, thì bản đồ địa chính thửa đất, khu đất phải được Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định. Trường hợp chỉ trích lục bản đồ để lập thủ tục thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất mà không phải phê duyệt phương án bồi thường, thì đơn vị có chức năng trích lục bản đồ thực hiện, Sở Tài nguyên và Môi trường không phải thẩm định bản đồ.
4. Bản đồ địa hình phục vụ tính khối lượng đào, đắp; khảo sát, thăm dò, cấp phép, gia hạn, chuyển nhượng khoáng sản thuộc thẩm quyền UBND tỉnh và mục đích quản lý đất đai khác, phải được Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định.
5. Các sản phẩm đo đạc và bản đồ phải được cập nhật thường xuyên và kịp thời vào hệ thống hồ sơ địa chính để đảm bảo phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai.
6. Tổ chức, cá nhân được sử dụng các sản phẩm đo đạc và bản đồ và thực hiện hoạt động đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật.