vanban.org

Điều 9. Hệ thống tổ chức và hoạt động của Hội Khuyến học tỉnh Gia Lai bao gồm: — Quyết định 45/2002/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 27/06/2002 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Gia Lai Ban hành 27/06/2002 Hiệu lực 27/06/2002 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 45/2002/QĐ-UB › Chương IV › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9. Hệ thống tổ chức và hoạt động của Hội Khuyến học tỉnh Gia Lai bao gồm:

1. Tỉnh hội Gia Lai:

1.1. Đại hội đại biểu khuyến học tỉnh Gia Lai: Là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội Khuyến học tỉnh Gia Lai được tổ chức thường kỳ 5 năm một lần; khi cần thiết có thể triệu tập sớm hơn hoặc muộn hơn nhưng không quá một năm, nếu có 2/3 số uỷ viên Ban chấp hành (BCH) tỉnh hội yêu cầu. Đại hội có nhiệm vụ đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của nhiệm kỳ, quyết định chương trình công tác nhiệm kỳ tiếp theo, sửa đổi, bổ sung "Quy chế của Hội Khuyến học tỉnh Gia Lai", bầu cử Ban chấp hành Hội mới.

1.2 Ban chấp hành Tỉnh hội là cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa hai kỳ Đại hội, thực hiện Nghị quyết Đại hội cấp mình; phân công, công tác các uỷ viên BCH; bầu Ban Thường vụ mới số lượng không quá 1/3 số uỷ viên BCH, gồm chủ tịch, các phó chủ tịch và các uỷ viên; bầu Ban Kiểm tra gồm các trưởng ban, phó trưởng ban và các uỷ viên; cử Hội đồng quản lý và Chủ tịch Hội đồng Quỹ Khuyến học của tỉnh và các ban, các tổ chức thành viên theo hướng dẫn của BCHTW Hội. Ban Chấp hành Tỉnh hội họp 6 tháng một lần, họp bất thường khi cần thiết.

Trong quá trình hoạt động, xuất phát từ nhu cầu công tác và đề nghị của Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Tỉnh hội có thể tổ chức bầu cử bổ sung uỷ viên Ban Chấp hành với số lượng không quá 10% tổng số Ủy viên BCH do Đại hội đã bầu.

1.3. Ban Thường vụ Tỉnh hội thay mặt BCH giữa hai nhiệm kỳ, có nhiệm vụ tổ chức chỉ đạo thực hiện Nghị quyết của Đại hội đại biểu và của BCH tỉnh; hướng dẫn, giúp đỡ, kiểm tra hoạt động của các tổ chức Hội cấp dưới; quản lý các tổ chức giúp việc BCH; quản lý tài chính, tài sản và lãnh đạo hoạt động của Quỹ Khuyến học tỉnh; triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của BCH.

1.4. Các tổ chức trực thuộc Tỉnh hội:

a) Ban Thường vụ Tỉnh hội có thể thành lập các tổ chức trực thuộc giúp việc sau:

- Ban hỗ trợ Giáo dục - Đào tạo và phát triển phong trào khuyến học.

- Ban Tổ chức.

- Ban Kinh tế - Tài chính.

- Văn phòng Tỉnh hội (kiêm tuyên truyền, quan hệ đối ngoại).

b) Tỉnh Hội có thể có một số cơ sở đào tạo hoặc cơ sở dịch vụ, sản xuất nhằm phục vụ ba mục tiêu của Hội trên địa bàn tỉnh. Đây là những đơn vị tự quản về tài chính và hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh hội. Việc thành lập và tổ chức hoạt động của các cơ sở này tuân theo đúng các điều kiện, trình tự, thủ tục do luật pháp và UBND tỉnh quy định.

1.5. Quỹ Khuyến học của Tỉnh hội Gia Lai có chức năng vận động và tiếp nhận các nguồn tài trợ để hỗ trợ cho các hoạt động khuyến học phù hợp với ba mục tiêu cơ bản của Hội Khuyến học Gia Lai. Quỹ có tư cách pháp nhân, hoạt động theo đúng điều lệ của quỹ trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước.

Hội đồng quản lý quỹ chịu trách nhiệm quản lý hoạt động của quỹ dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh hội và sự kiểm tra, hướng dẫn về nghiệp vụ của Quỹ Khuyến học Việt Nam. Chủ tịch Hội đồng quản lý quỹ là Phó Chủ tịch Tỉnh hội.

1.6. Ban Kiểm tra của Tỉnh hội có nhiệm vụ kiểm tra việc thi hành quy chế, việc thực hiện các Nghị quyết công tác, việc quản lý và sử dụng tài chính; kiểm tra tư cách cán bộ, hội viên; giải quyết các đơn khiếu nại, tố cáo đối với hội viên và tổ chức Hội; đề xuất các vấn đề về công tác kiểm tra với Ban Thường vụ hoặc BCH của Hội giải quyết.

2. Huyện, thành phố hội:

Huyện, thành phố Hội là cấp nối liền sự chỉ đạo của Tỉnh hội với các Hội cơ sở.

2.1. Đại hội Huyện, Thành phố Hội được tổ chức thường kỳ 5 năm một lần để đánh giá việc thực hiện Nghị quyết của nhiệm kỳ, quyết định chương trình công tác của nhiệm kỳ tiếp theo trên cơ sở hoá nhiệm vụ công tác của Tỉnh hội, bầu cử BCH mới.

2.2. BCH Huyện, Thành phố Hội bầu Ban Thường vụ gồm chủ tịch, phó chủ tịch và các uỷ viên để điều hành công việc thường xuyên của Hội, cử 1 phó chủ tịch làm Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Khuyến học của Huyện, Thành phố Hội; phân công các uỷ viên Ban Chấp hành phụ trách về các mặt của Hội như:

Hỗ trợ giáo dục - đào tạo và phát triển phong trào khuyến học, tổ chức và kiểm tra, kinh tế - tài chính, văn phòng Huyện, Thành phố Hội.

Các phiên họp thường kỳ để kiểm điểm việc thực hiện chương trình công tác có thể được tiến hành 6 tháng một lần đối với BCH huyện, thành phố; 2 tháng một lần đối với Ban Thường vụ Huyện - Thành phố hội.

2.3. Nhiệm vụ chủ yếu của BCH, Ban Thường vụ Huyện, Thành phố hội là quán triệt, vận dụng và theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ công tác khuyến học của Tỉnh hội trong địa bàn huyện, thành phố cùng với việc tổ chức thực hiện công tác của Đại hội Huyện, Thành phố hội, hướng dẫn kiểm tra hoạt động của các Hội cơ sở; quản lý sử dụng có hiệu quả Quỹ Khuyến học Huyện, Thành phố Hội.

2.4. Ban Chấp hành và Ban Thường vụ Huyện - Thành phố hội tuỳ điều kiện và khả năng của mình có thể có một số cơ sở đào tạo hoặc trung tâm dịch vụ, sản xuất nhằm phục vụ ba mục tiêu khuyến học trong huyện, thành phố. Đây là các đơn vị tự quản về tài chính, được thành lập và hoạt động theo qui định của pháp luật và đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện, Thành phố Hội.

2.5. Quỹ Khuyến học Huyện, Thành phố Hội có chức năng vận động và tiếp nhận các nguồn tài trợ để hỗ trợ các hoạt động khuyến học của Huyện, Thành phố Hội. Quỹ có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng, hoạt động theo Điều lệ của Quỹ Khuyến học và trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Thường vụ Huyện, Thành phố Hội và hướng dẫn, kiểm tra về nghiệp vụ của Quỹ Khuyến học Tỉnh hội.

3. Tổ chức Hội cơ sở:

3.1. Ở xã, phường, thị trấn có đủ điều kiện và có nhu cầu thì thành lập Hội Khuyến học xã, phường, thị trấn (gọi là Hội Khuyến học cơ sở).

Hội cơ sở có dưới 15 hội viên thì cử chủ tịch, phó chủ tịch để điều hành công việc. Từ 15 hội viên trở lên thì cử BCH gồm chủ tịch, phó chủ tịch và các uỷ viên...

Hội cơ sở có đông hội viên có thể chia thành chi hội. Chi hội cử ra chi hội trưởng, chi hội phó hoặc BCH chi hội từ 3 - 5 uỷ viên để điều hành công việc.

Chi hội nếu có đông hội viên có thể thành lập các phân hội. Phân hội cử ra phân hội trưởng, phân hội phó điều hành công việc.

3.2. Đại hội đại biểu hoặc đại hội toàn thể của Hội cơ sở được triệu tập 5 năm hai lần để đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của nhiệm kỳ, quyết định chương trình công tác nhiệm kỳ tiếp theo, bầu cử BCH mới.

3.3. BCH Hội cơ sở có nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của Hội cấp trên, chương trình công tác của đại Hội cơ sở, xây dựng và phát triển tổ chức Hội cơ sở; phối hợp với nhà trường, các đoàn thể xã hội, Hội phụ huynh học sinh, câu lạc bộ nhà giáo, ban đại diện các dòng họ... để cùng vận động các tầng lớp nhân dân tham gia các hoạt động khuyến học, góp phần tích cực thực hiện xã hội hoá giáo dục cơ sở; xây dựng, quản lý sử dụng có hiệu quả Quỹ Khuyến học của Hội cơ sở; chuẩn bị Đại hội đại biểu hoặc đại hội toàn thể của Hội cơ sở nhiệm kỳ sau.

BCH Hội cơ sở có từ 9 uỷ viên trở lên được Ban Thường vụ gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các uỷ viên để điều hành công việc thường xuyên của Hội; dưới 9 uỷ viên chỉ cử chủ tịch, phó chủ tịch.

BCH Hội cơ sở phân công một hoặc một số uỷ viên phụ trách Quỹ Khuyến học cơ sở và phân công các uỷ viên phụ trách từng mặt công tác của Hội cơ sở; hỗ trợ và phát triển phong trào khuyến học, tổ chức, kiểm tra, văn phòng... đồng thời phân công công tác cho các hội viên.

BCH Hội cơ sở sinh hoạt 3 tháng một lần, Ban Thường vụ Hội cơ sở sinh hoạt 1 tháng 1 lần.

3.4. Quỹ Khuyến học của Hội cơ sở trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý, dưới sự kiểm tra, hướng dẫn của Quỹ Khuyến học huyện, thành phố; không có Quỹ Khuyến học ở chi hội các thôn xóm, khối phố... Hội Khuyến học cơ sở có thể đề ra các chính sách phân phối quỹ ưu tiên cho những đơn vị chi hội trực thuộc, nếu ở đó việc vận động có kết quả cao hơn đơn vị khác. Quỹ có nhiệm vụ vận động và tiếp nhận tài trợ để hỗ trợ sự nghiệp khuyến học ở cơ sở. Quỹ hoạt động theo Điều lệ của Quỹ Khuyến học và trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước. Một Phó Chủ tịch Hội Khuyến học làm Chủ tịch Hội đồng Quản lý quỹ.

3.5. Tuỳ theo điều kiện và khả năng từng cơ sở, BCH Hội cơ sở có thể có một số cơ sở giáo dục - đào tạo hoặc dịch vụ sản xuất nhằm trực tiếp phục vụ hoạt động khuyến học ở cơ sở như: trường, lớp mầm non dân lập, trường phổ thông dân lập... Việc thành lập và tổ chức hoạt động của các cơ sở này phải theo quy định của Pháp luật.

3.6. Trong các cơ quan, công trường, xí nghiệp, trường học trực thuộc cấp tỉnh, huyện, thành phố nếu có đủ điều kiện thì có thể tổ chức Hội Khuyến học cơ sở.