vanban.org

Điều 7. - Vận chuyển giao nhận bí mật Nhà nước: — Quyết định 446-BYT/QĐ

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 27/04/2005
Bộ Y tế Ban hành 06/05/1993 Hiệu lực 06/05/1993 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 446-BYT/QĐ › Chương II › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. - Vận chuyển giao nhận bí mật Nhà nước:

1. Gửi tài liệu mật đi:

Vào sổ: Tài liệu mật trước khi gửi đi các nơi nhất thiết phải vào sổ "Tài liệu mật đi" riêng để theo dõi. Sổ "Tài liệu mật đi" phải ghi đầy đủ các cột mục: Số thứ tự (đồng thời là số của tài liệu gửi đi), ngày, tháng, năm, nơi nhận, trích yếu nội dung độ mật, độ khẩn, người ký, ghi chú (ghi văn bản kèm theo nếu có).

Trường hợp tài liệu "Tuyệt mật" thì người chuẩn bị văn bản vẫn lấy số đi và đăng ký theo đúng các cột mục trong sổ, riêng cột trích yếu nội dung bỏ trống (ghi sau, nếu người có thẩm quyền đồng ý) cho vào bì dán kín và làm các yêu cầu bảo mật trước khi đưa đến văn thư để làm bì ngoài gửi đi.

Lập phiếu gửi: Tài liệu mật gửi đi phải kèm theo phiếu gửi bỏ chung trong bì với tài liệu.

Phiếu gửi ghi rõ nơi gửi, nơi nhận, số ký hiệu từng tài liệu gửi đi, đóng dấu độ mật, độ khẩn theo độ mật, độ khẩn của tài liệu vào góc phải phía trên của tờ phiếu. Nơi nhận khi nhận được tài liệu mật phải hoàn lại ngay phiếu gửi cho nơi gửi.

Làm bì: Tài liệu mật gửi đi không gửi chung trong một bì với tài liệu thường. Giấy làm bì phải là loại giấy dai, khó bóc, không thấm nước, không nhìn thấu qua được, gấp bì theo mối chéo, hồ dán phải dính, khó bóc.

Tài liệu độ "Mật" ngoài bì đóng dấu ký hiệu chữ "C" in hoa nét đậm (không đóng dấu "Mật").

Tài liệu "Tuyệt mật", "Tối mật" gửi bằng hai bì:

Bì trong: Ghi rõ số, ký hiệu của tài liệu, tên người nhận, đóng dấu độ mật theo độ mật của tài liệu. Nếu là tài liệu "Tuyệt mật" gửi đích danh cho người có trách nhiệm giải quyết, thì đóng dấu Cchỉ người có tên mới bóc bì".

Bì ngoài: Ghi như tài liệu thường, đóng dấu ký hiệu độ mật chữ "A", in hoa nét đậm là "Tuyệt mật", chữ "B", in hoa nét đậm là "Tối mật" (không đóng dấu "Tuyệt mật", "Tối mật").

Niêm phong tài liệu "Tuyệt mật", "Tối mật" gửi đi, bì trong sau khi dán bằng hồ, phải dán bằng keo đè lên các mép dán hồ và niêm phong bằng chỉ hoặc si hoặc bằng giấy thật mỏng khó bóc, niêm lên giao điểm các mối chéo phía sau của bì, dấu niêm phong ở các góc giấy mềm, một nửa trên giấy niêm, một nửa trên giấy bì. Mực niêm phong dùng loại mực màu đỏ tươi.

2. Nhận tài liệu mật đến:

Mọi tài liệu mật đến bất cứ từ nguồn nào đều phải qua văn thư vào sổ "Tài liệu mật đến" riêng để theo dõi và chuyển đến người có trách nhiệm giải quyết.

Trường hợp tài liệu mật đến mà bì trong có dấu "Chỉ người có tên mới được bóc bì" thì văn thư vào sổ số ghi ngoài bì và chuyển đến ngay người có tên nhận. Nếu người có tên trên đi vắng, thì chuyển đến người có trách nhiệm giải quyết. Văn thư không được bóc bì.

Tài liệu mật gửi đến không đủ thủ tục theo quy định, một mặt chuyển ngay đến người có trách nhiệm giải quyết, một mặt tìm cách nhanh chóng hỏi lại và rút kinh nghiệm với nơi gửi.

3. Thu hồi tài liệu mật:

Văn thư phải theo dõi, thu hồi hoặc trả lại nơi gửi đúng kỳ hạn những tài liệu mật có đóng dấu thu hồi. Khi nhận cũng như khi trả đều phải kiểm tra, đối chiếu và xoá sổ.

4. Giao nhận tài liệu mật:

Mọi trường hợp giao nhận tài liệu mật giữa các khâu (người dự thảo, đánh máy, in, văn thư, giao thông viên, người có trách nhiệm giải quyết, người cất giữ bảo quản...) đều phải vào sổ có ký nhận giữa hai bên giao nhận trực tiếp, tại phòng làm việc theo quy định của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị.

5. Vận chuyển tài liệu mật:

Mọi trường hợp vận chuyển tài liệu mật phải có phương tiện mang giữ tốt (hòm sắt, cặp có khoá chắc chắn), không buộc sau xe đạp, mô tô, không được giao cho người không có trách nhiệm giữ hộ, không được để bất cứ nơi nào mà không có người có trách nhiệm coi giữ cẩn thận.