vanban.org

Điều 5. - Các quyền lợi khi giao đất, giao rừng : — Quyết định 441/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 11/11/1998
Hồ Chí Minh Ban hành 29/12/1983 Hiệu lực 29/12/1983 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 441/QĐ-UB › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. - Các quyền lợi khi giao đất, giao rừng :

a) Rừng do đơn vị quốc doanh, tập thể hoặc hộ gia đình trồng hoặc cải tạo bằng vốn tự có và sức lao động của mình thì có quyền lợi :

- Được hưởng toàn bộ sản phẩm trung gian trong quá trình chăm sóc, tỉa thưa.

- Được sử dụng 50% sản phẩm chính khi khai thác, còn lại bán cho Nhà nước theo giá thỏa thuận. Riêng đối với hộ gia đình tự trồng rừng (kể cả vườn rừng và đất mượn để trồng rừng) khi thu hoạch phải nộp cho huyện, xã hoặc đơn vị quốc doanh, tập thể trực tiếp quản lý, 20% sản phẩm chính. Số còn lại được sử dụng hoặc bán cho Nhà nước theo giá thỏa thuận.

- Được hưởng toàn bộ sản phẩm nông nghiệp trồng xen, vật nuôi theo hướng nông lâm kết hợp được hưởng các sản phẩm phụ thu được theo quy định hướng dẫn của ngành Lâm nghiệp.

b) Rừng do thành phố, quận huyện cấp kinh phí trồng tập trung hoặc phân tán giao cho đơn vị quốc doanh vá tập thể hoặc hộ gia đình chăm sóc, bảo vệ thì có các quyền lợi :

- Được hưởng toàn bộ khi thu nhặt củi khô, sản phẩm trồng xen, nuôi tôm cá dưới tán rừng, nhưng không làm ảnh hưởng xấy đến sinh trưởng của rừng như làm đê bao, đắp đập làm thay đổi môi sinh trong rừng (trừ vùng quy hoạch nuôi tôm tại rừng Đước Duyên Hải), không chăn thả trâu bò bừa bãi, làm chết cây rừng trên cạn.

- Được sử dụng 20% sản phẩm khi khai thác trung gian hoặc khai thác chính. Trong đó dành 10% để phục vụ công tác bảo vệ chăm sóc rừng và khen thưởng cho những người trực tiếp chăm sóc bảo vệ rừng, còn 10% dành cho quỹ phúc lợi đối với đơn vị quốc doanh, tập thể. Đối với hộ gia đình dành khoảng 10% phục vụ công tác chăm sóc, bảo vệ rừng được giao, số còn lại gia đình được quyền sử dụng toàn bộ.

Các sản phẩm được hưởng trên, khi tiến hành chặt tỉa, các đơn vị quốc doanh, tập thể và nhân dân phải thực hiện theo đúng quy định kỹ thuật của ngành Lâm nghiệp, bảo đảm năng suất và chất lượng rừng ngày càng cao.

- Ngoài quyền hưởng phần trăm sản phẩm chính và toàn bộ sản phẩm phụ còn được trợ cấp 300đ/tháng cho mỗi lao động chăm sóc, bảo vệ rừng (theo định mức giao ở điều 3a) đối với cán bộ phường xã, nhân dân không có chế độ lương thực, thực phẩm. Được trợ cấp 100đ/tháng cho mỗi lao động được hưởng lương thực, thực phẩm của đơn vị. Các đơn vị trực tiếp bảo vệ rừng (Hạt KLNĐ) làm kế hoạch và dự trù kinh phí hàng năm để trợ cấp kịp thời cho quần chúng tham gia bảo vệ rừng.

- Đối với những nơi xa xôi, hẻo lánh đi lại khó khăn (như rừng Sác Duyên Hải) các đơn vị trực tiếp kinh doanh và quản lý bảo vệ rừng của thành phố hoặc quận, huyện, xã, nông lâm ngư trường, tùy tình hình cụ thể có thể được xét cấp phương tiện đi lại (xuồng, ghe chèo tay hoặc xuồng, ghe máy), chòi canh, trạm gác và những dụng cụ cần thiết khác để công tác bảo vệ rừng tiến hành được thuận lợi.

- Đối với những lao động trồng và bảo vệ rừng (theo định mức giao ở điều 3a) được bán thêm mỗi năm 1 bộ quần áo bảo hộ lao động do Sở Lâm nghiệp lập kế hoạch xin trang cấp.

c) Được Nhà nước giao rừng và đất rừng lâu dài tập thể và nhân dân để sản xuất kinh doanh, chăm sóc, bảo vệ. Trường hợp đặc biệt Nhà nước phải thu hồi lại một phần hoặc toàn bộ số diện tích đã giao để sử dụng vào mục đích công cộng khác, thì tập thể và gia đình đó được giao lại diện tích tương đương khác và được đền bù thích đáng những cây hoặc màu trên diện tích thu lại. Trong trường hợp tập thể hoặc nhân dân không có điều kiện tiếp tục kinh doanh, chăm sóc, bảo vệ thỉ được giao lại cho Nhà nước hoặc tập thể, hộ nhân dân khác kinh doanh và được thanh toán thỏa đáng kinh phí đầu tư và công sức bỏ ra theo hiện trạng tài nguyên rừng hiện có dưới sự xác nhận của huyện và ngành Lâm nghiệp. Trong những năm sau nếu người trực tiếp nhận đất, nhận rừng kinh doanh chết đi thì những người thân trong gia đình được quyền thừa kế tài nguyên rừng hiện đang có.

d) Trong từng trường hợp cụ thể, thành phố, huyện và ngành Lâm nghiệp có thể cung cấp giống, vật tư, hướng dẫn kỹ thuật, cho vay vốn ngân hàng để quốc doanh, tập thể và hộ nhân dân sản xuất kinh doanh nghề rừng.

e) Các sản phẩm chính bán cho Nhà nước được giảm 50% tiền thuế nuôi rừng.