Điều 8. Đối với các Sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện và Phòng Tư pháp cấp huyện
1. Đối với các sở, ban, ngành, đoàn thể Tỉnh:
Sở Tư pháp có quan hệ hợp tác bình đẳng với các sở, ban, ngành; được chủ trì mời các sở, ban, ngành, đoàn thể họp để giải quyết những công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và khi được ủy quyền. Khi có những vấn đề chưa nhất trí thì các bên phải chủ động trao đổi, bàn bạc tìm biện pháp tháo gỡ và tổ chức thực hiện. Trường hợp chưa có sự thống nhất ý kiến thì các bên báo cáo, đề nghị Ủy ban nhân dân Tỉnh xem xét, chỉ đạo giải quyết.
2. Đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố:
Sở Tư pháp có mối quan hệ phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trong lĩnh vực công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao;
Trong phạm vi nhiệm vụ được phân công, Sở Tư pháp được yêu cầu Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố báo cáo tình hình về các vấn đề có liên quan bằng văn bản hoặc trực tiếp trao đổi để triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Tỉnh, Bộ Tư pháp.
3. Đối với Phòng Tư pháp
Sở Tư pháp có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện công tác chuyên môn của phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố và các lĩnh vực công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ của ngành Tư pháp theo quy định của pháp luật.
4. Sở Tư pháp có mối quan hệ phối hợp với các cơ quan, tổ chức của Trung ương đóng tại địa phương và hoạt động có liên quan đến lĩnh vực công tác tư pháp để tham mưu Ủy ban nhân dân Tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công tác tư pháp trên địa bàn tỉnh.