vanban.org

Điều 14. Kinh phí quản lý, khai thác công trình: — Quyết định 44/2007/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/10/2020 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 10/10/2020 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 44/2020/QĐ-UBND · 29/09/2020
An Giang Ban hành 27/08/2007 Hiệu lực 06/09/2007 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 19 năm
Quyết định số 44/2007/QĐ-UBND Về Quy định phân cấp quản lý, khai thác công trình thuộc hệ thống Bắc Vàm Nao. · 44/2007/QĐ-UBND
10/10/202044/2020/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 06/09/2007Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 44/2007/QĐ-UBND › Chương IV › Điều 14
Đọc toàn văn

Điều 14. Kinh phí quản lý, khai thác công trình:

1. Việc sử dụng kinh phí để quản lý, vận hành khai thác, bảo trì, duy tu bảo dưỡng và sửa chữa công trình phải thực hiện đúng với các quy định hiện hành.

2. Các tổ chức quản lý, khai thác công trình được sử dụng kinh phí để quản lý, vận hành khai thác, bảo trì, duy tu bảo dưỡng và sửa chữa công trình từ các nguồn như sau:

a) Ngành giao thông: sử dụng nguồn vốn sự nghiệp ngành giao thông để quản lý, bảo trì và sửa chữa nhỏ các công trình theo phân cấp quản lý; khi cần sửa chữa lớn công trình, nếu thiếu kinh phí đề nghị ngân sách cấp bổ sung.

b) Ủy ban nhân dân huyện và Ủy ban nhân dân xã: sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách địa phương và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật để quản lý, bảo trì các công trình giao thông đường bộ theo phân cấp.

c) Tổ chức cung cấp dịch vụ cấp hệ thống: được sử dụng từ 80% nguồn thu thủy lợi phí, tiền nước trong hệ thống (mức thu thu thủy lợi phí, tiền nước thực hiện theo Quyết định 2720/2005/QĐ-UBND ngày 30/9/2005 của UBND tỉnh) được để lại ngân sách tỉnh. Nguồn kinh phí này do Ban Quản lý hệ thống Bắc Vàm Nao quản lý và chi trả cho tổ chức cung cấp dịch vụ cấp hệ thống theo hợp đồng dịch vụ để thực hiện các mặt công tác: quản lý, vận hành khai thác, duy tu bảo dưỡng, sửa chữa các công trình thủy lợi theo phân cấp quản lý. Khi cần xây dựng mới hoặc sửa chữa lớn công trình, nếu thiếu kinh phí đề nghị ngân sách tỉnh cấp bổ sung.

d) Các Ban Quản lý tiểu vùng: được sử dụng từ 20% nguồn thu thủy lợi phí, tiền nước trong hệ thống (mức thu thu thủy lợi phí, tiền nước thực hiện theo Quyết định 2720/2005/QĐ-UBND ngày 30/9/2005 của UBND tỉnh) được để lại ngân sách huyện. Nguồn kinh phí này do UBND huyện quản lý và phân bổ cho từng tiểu vùng để thực hiện công tác quản lý, vận hành khai thác các công trình thủy lợi theo phân cấp quản lý và hỗ trợ một phần cho duy tu, sửa chữa và nạo vét các công trình thủy lợi trong tiểu vùng. Đối với các công trình kênh nội đồng, kinh phí nạo vét kênh được sử dụng từ nguồn vốn do huy động các hộ dân có đất trong tiểu vùng đóng góp.