Điều 1. Thẩm quyền xác lập quyền sở hữu của Nhà nước về tài sản
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật đối với các tài sản:
a) Tài sản bị chôn giấu, bị chìm đắm; bất động sản vô chủ, bất động sản không có người thừa kế, tài sản bị đánh rơi, bỏ quên là di tích lịch sử - văn hóa; tài sản của các vụ việc xử lý bao gồm cả bất động sản hoặc di tích lịch sử - văn hóa và động sản trên phạm vi địa bàn tỉnh;
b) Tài sản do tổ chức, cá nhân tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm: Bất động sản, xe ô tô, tàu, thuyền các loại, các tài sản khác có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên/1 đơn vị tài sản (trừ tài sản đặc biệt, tài sản chuyên dùng thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh) chuyển giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của địa phương;
c) Tài sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển giao cho nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo cam kết sau khi kết thúc thời hạn hoạt động.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật đối với:
a) Tài sản vô chủ, tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, tài sản không có người thừa kế (không phải là bất động sản, di tích lịch sử - văn hóa) thuộc phạm vi quản lý của địa phương;
b) Tài sản do tổ chức, cá nhân tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước Việt Nam gồm: Tài sản khác (không phải là bất động sản, xe ô tô, tàu, thuyền các loại, tài sản đặc biệt, tài sản chuyên dùng thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh) có giá trị dưới 500 triệu đồng/1 đơn vị tài sản chuyển giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của địa phương.