Điều 7. Hình thức lựa chọn nhà thầu
Hình thức lựa chọn nhà thầu gồm: Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu, mua sắm trực tiếp, chào hàng cạnh tranh trong mua sắm hàng hoá, tự thực hiện, lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt thực hiện từ Điều 18 đến Điều 24 của “Luật Đấu thầu”.
1. Đối với hình thức đấu thầu hạn chế (Điều 19 - Luật Đấu thầu) được áp dụng trong các trường hợp sau:
a) Theo yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng cho gói thầu;
b) Gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù; gói thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu.
Khi thực hiện đấu thầu hạn chế, phải mời tối thiểu năm nhà thầu được xác định là có đủ năng lực và kinh nghiệm tham gia đấu thầu; trường hợp thực tế có ít hơn năm nhà thầu, chủ đầu tư phải trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định cho phép tiếp tục tổ chức đấu thầu hạn chế hoặc áp dụng hình thức lựa chọn khác.
2. Đối với hình thức chỉ định thầu (Điều 20 - Luật Đấu thầu) thực hiện như sau:
a) Điều kiện chỉ định thầu được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
- Sự cố bất khả kháng do thiên tai, địch họa, sự cố cần khắc phục ngay thì chủ đầu tư hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý công trình, tài sản đó được chỉ định ngay nhà thầu để thực hiện; trong trường hợp này chủ đầu tư hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý công trình, tài sản đó phải cùng với nhà thầu được chỉ định tiến hành thủ tục chỉ định thầu theo quy định trong thời hạn không quá mười lăm ngày kể từ ngày chỉ định thầu;
- Gói thầu do yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài;
- Gói thầu thuộc dự án bí mật quốc gia; dự án cấp bách vì lợi ích quốc gia, an ninh, an toàn năng lượng do Thủ tướng Chính phủ quyết định khi thấy cần thiết;
- Gói thầu mua sắm các loại vật tư, thiết bị để phục hồi, duy tu, mở rộng công suất của thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất mà trước đó đã được mua từ một nhà thầu cung cấp và không thể mua từ các nhà thầu cung cấp khác do phải bảo đảm tính tương thích của thiết bị, công nghệ;
- Gói thầu dịch vụ tư vấn có giá gói thầu dưới 500 triệu đồng, gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp có giá gói thầu dưới 01 tỷ đồng thuộc dự án đầu tư phát triển; gói thầu mua sắm hàng hóa có giá gói thầu dưới 100 triệu đồng thuộc dự án hoặc dự toán mua sắm thường xuyên; trường hợp thấy cần thiết thì tổ chức đấu thầu.
b) Khi thực hiện chỉ định thầu, phải lựa chọn một nhà thầu được xác định là có đủ năng lực và kinh nghiệm đáp ứng các yêu cầu của gói thầu và gói thầu thực hiện chỉ định thầu phải được phê duyệt trong kế hoạch đấu thầu. Quy trình chỉ định thầu được thực hiện tương tự theo quy trình đấu thầu cho một gói thầu, bao gồm:
- Phát hành hồ sơ yêu cầu;
- Chuẩn bị hồ sơ đề xuất;
- Đánh giá hồ sơ đề xuất;
- Trình duyệt, thẩm định, phê duyệt kết quả chỉ định thầu;
- Thương thảo, hoàn thiện và ký hợp đồng
c) Chủ đầu tư phê duyệt hồ sơ yêu cầu chỉ định thầu gói thầu quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 20 của “Luật Đấu thầu”. Người có thẩm quyền phê duyệt đấu thầu hoặc uỷ quyền phê duyệt hồ sơ yêu cầu các gói thầu còn lại;
d) Riêng gói thầu thực hiện chỉ định thầu tại điểm a khoản 1 Điều 20 của “Luật Đấu thầu” không phải thực hiện các bước của khoản 1 Điều này. Sau 15 ngày kể từ ngày chỉ định thầu chủ đầu tư và nhà thầu tiến hành xác định khối lượng và giá trị công việc do hai bên ký kết hợp đồng làm cơ sở thanh toán.
đ) Đối với gói thầu tư vấn có giá trị nhỏ hơn 50 triệu đồng và gói thầu xây lắp có giá trị nhỏ hơn 100 triệu đồng giao cho chủ đầu tư phê duyệt kế hoạch đấu thầu và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.