Điều 18. Trách nhiệm của tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN
1. Tiếp nhận, quản lý kinh phí, tổ chức triển khai thực hiện, đôn đốc, theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ KH&CN và thực hiện báo cáo định kỳ theo quy định tại Điều 11 của Quy định này.
2. Trong trường hợp cần thiết, báo cáo, đề xuất với Sở KH&CN điều chỉnh hợp đồng thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo quy định tại Điều 9 của Quy định này.
3. Thành lập Hội đồng nghiệm thu cấp cơ sở.
4. Nghiệm thu, giao nộp sản phẩm, quyết toán kinh phí và thanh lý hợp đồng, bảo mật tài liệu, ứng dụng kết quả nghiên cứu theo quy định tại các Điều 13, điều 14 và Điều 15 của Quy định này.
5. Cá nhân được giao chủ trì nhiệm vụ KH&CN có trách nhiệm:
a) Lập đề cương thuyết minh nhiệm vụ KH&CN, báo cáo cơ quan chủ trì để trình Sở KH&CN phê duyệt và thực hiện các nội dung theo đề cương thuyết minh và hợp đồng đã ký kết;
b) Sử dụng kinh phí đúng nội dung, mục đích và đối tượng;
c) Khi cần thiết có sự thay đổi, điều chỉnh dự toán, báo cáo cơ quan chủ trì trình với Sở KH&CN;
d) Lập hồ sơ quyết toán kinh phí nhiệm vụ KH&CN theo hướng dẫn của Sở KH&CN;
e) Báo cáo đầy đủ, đúng yêu cầu, đúng thời hạn kết quả thực hiện, tiến độ giải ngân và chịu trách nhiệm về chứng từ, số liệu chi tiết quyết toán kinh phí thực hiện với cơ quan chủ trì và cơ quan quản lý. Chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện và việc khai thác, sử dụng các nguồn thông tin, tư liệu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN, cũng như việc lưu giữ, công bố, giao nộp và bảo mật các thông tin, tài liệu, sản phẩm nghiên cứu có liên quan tới bí mật quốc gia theo quy định hiện hành.
f) Được hưởng quyền tác giả đối với kết quả nghiên cứu và dịch vụ chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu theo quy định của pháp luật.
Cùng với cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm pháp lý về kinh phí thu hồi của nhiệm vụ KH&CN.