Điều 8. Quản lý, sử dụng nghĩa trang
1. Nghĩa trang được đầu tư từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước phải dành tối thiểu 10% diện tích đất mai táng đã đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch chi tiết xây dựng nghĩa trang được cấp có thẩm quyền phê duyệt để phục vụ cho các đối tượng đang được nuôi dưỡng, chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội trên địa bàn huyện, thành phố theo quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 24 và khoản 2 Điều 26 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội khi chết trên địa bàn. Trường hợp địa phương không cần sử dụng quỹ đất này thì chủ đầu tư nghĩa trang đề xuất cơ quan quản lý nhà nước đối với nghĩa trang theo phân cấp quy định tại khoản 1 Điều 2 Quy định này báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.
2. Quỹ đất quy định tại khoản 1 Điều này được chủ đầu tư nghĩa trang bàn giao cho cơ quan quản lý nhà nước đối với nghĩa trang theo phân cấp quy định tại khoản 1 Điều 2 Quy định này để thống nhất quản lý, sử dụng.
3. Điều kiện đăng ký trước khi sử dụng phần mộ cá nhân và quy trình, thủ tục đăng ký phần mộ đối với nghĩa trang được đầu tư xây dựng từ nguồn ngân sách nhà nước được thực hiện theo khoản 5 Điều 14 Nghị định số 23/2016/NĐ- CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 98/2019/NĐ-CP).
4. Đơn vị quản lý nghĩa trang có trách nhiệm tổ chức tiếp nhận việc đăng ký trước khi cho sử dụng phần mộ cá nhân trong nghĩa trang do mình quản lý.
5. Các quy định chung khác về quản lý, sử dụng nghĩa trang thực hiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 14 Nghị định số 23/2016/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 98/2019/NĐ-CP).