Điều 17. Thẩm quyền quyết định chủ trương lập, thẩm định, phê duyệt dự án, báo cáo kinh tế kỹ thuật tu bổ di tích và điều kiện của tổ chức, cá nhân thực hiện bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
1. Thẩm quyền quyết định việc lập dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật tu bổ di tích và lựa chọn chủ đầu tư của dự án tu bổ di tích, báo cáo kinh tế - kỹ thuật tu bổ di tích (sau đây gọi là dự án).
a) Đối với dự án được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, vốn nhà nước ngoài ngân sách thực hiện theo Luật Đầu tư công quy định thẩm quyền quyết định đầu tư chương trình, dự án;
b) Đối với dự án được đầu tư từ nguồn vốn xã hội hóa và các nguồn vốn huy động hợp pháp khác (ngoài ngân sách nhà nước), Ủy ban nhân dân tỉnh giao đơn vị, địa phương trực tiếp quản lý di tích phê duyệt theo quy định của pháp luật.
2. Thẩm quyền thẩm định dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 18 và Điều 22 Nghị định số 166/2018/NĐ-CP của Chính phủ; pháp luật về xây dựng và các quy định của pháp luật có liên quan.
3. Thẩm quyền phê duyệt dự án (sau khi có ý kiến thẩm định của cơ quan quản lý nhà nước về Văn hóa, Thể thao và Du lịch theo quy định tại Khoản 1 Điều 18 Nghị định số 166/2018/NĐ-CP của Chính phủ) cụ thể như sau:
a) Đối với dự án do Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định chủ trương đầu tư:
- Dự án sử dụng vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư từ 01 tỷ đồng trở lên, vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài ngân sách thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 18 Nghị định số 166/2018/NĐ-CP của Chính phủ;
- Dự án sử dụng vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư có tổng mức đầu tư từ 500 triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng Ủy ban nhân dân tỉnh ủy quyền cho cơ quan chủ quản của chủ đầu tư (đơn vị dự toán cấp I theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước) phê duyệt;
- Dự án sử dụng vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư có tổng mức đầu tư dưới 500 triệu đồng chủ đầu tư tự quyết định phê duyệt.
b) Đối với dự án do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã quyết định chủ trương đầu tư, giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt.
c) Đối với dự án được đầu tư từ nguồn vốn xã hội hóa và các nguồn huy động hợp pháp khác (ngoài ngân sách nhà nước) giao cơ quan, địa phương trực tiếp quản lý di tích phê duyệt.
4. Việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo; công trình phụ trợ thuộc cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xếp hạng theo Luật Di sản văn hóa thực hiện theo quy định tại Điều 58 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
5. Tổ chức, cá nhân thực hiện việc bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về xây dựng và được Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp Chứng chỉ hành nghề tu bổ di tích, Giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề tu bổ di tích theo quy định tại Điều 9, Điều 14 Nghị định số 61/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định điều kiện kinh doanh giám định cổ vật và hành nghề bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và Điều 2 Nghị định số 142/2018/NĐ-CP ngày 09 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ sửa đổi một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.