vanban.org

Điều 9. Trình tự, thủ tục ngừng cấp điện do tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của pháp luật và hoạt động điện lực và sử dụng điện — Quyết định 39/2005/QĐ-BCN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 25/12/2013 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 25/12/2013
Bộ Công nghiệp Ban hành 23/12/2005 Hiệu lực 05/02/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 24 năm
Quyết định số 39/2005/QĐ-BCN Về việc ban hành Quy định về điều kiện, trình tự và thủ tục ngừng, giảm mức cung cấp điện · 39/2005/QĐ-BCN
25/12/201330/2013/TT-BCTSửa đổi Đang xem 05/02/2006Bản gốcThay thế
Quyết định số 52/2001/QĐ-BCN Về việc ban hành Quy định trình tự và thủ tục ngừng cấp điện · 52/2001/QĐ-BCN
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 39/2005/QĐ-BCN › Chương III › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9. Trình tự, thủ tục ngừng cấp điện do tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của pháp luật và hoạt động điện lực và sử dụng điện

Khi tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm một trong các quy định tại Điều 6 của Quy định này, bên bán điện lập biên bản (trừ trường hợp vi phạm điểm a khoản 2 Điều 46 Luật Điện lực) và thực hiện việc ngừng cấp điện theo các trình tự sau:

1. Trường hợp vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 6 của Quy định này:

a) Vi phạm khoản 1, khoản 4, khoản 5, khoản 7 và khoản 8 Điều 7 Luật Điện lực nếu chưa tới mức phải ngừng cấp điện khẩn cấp thì bên bán điện gửi thông báo ngừng cấp điện cho khách hàng trước 24 giờ so với thời điểm ngừng cấp điện. Nếu quá thời hạn trên mà khách hàng không thực hiện các yêu cầu ghi trong biên bản thì bên bán điện được ngừng cấp điện như thời điểm đã ghi trong thông báo ngừng cấp điện.

b) Trường hợp khách hàng cố tình trì hoãn việc thực hiện yêu cầu đã ghi trong biên bản thì sau khi ngừng cấp điện, bên bán điện chuyển toàn bộ hồ sơ cho cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động điện lực và sử dụng điện tại địa phương để xử lý theo quy định của pháp luật.

c) Vi phạm khoản 6 Điều 7 Luật Điện lực (hành vi trộm cắp điện dưới mọi hình thức), bên bán điện thực hiện ngừng cấp điện ngay, sau đó báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động điện lực và sử dụng điện tại địa phương biết.

2. Trường hợp vi phạm quy định về thanh toán tiền điện tại khoản 6 Điều 23 của Luật Điện lực:

a) Khách hàng chưa thanh toán tiền điện và không có thoả thuận lùi ngày trả, đã được bên bán điện thông báo 3 lần thì sau mười lăm ngày, kể từ ngày thông báo lần đầu tiên, bên bán điện có quyền ngừng cấp điện.

b) Khách hàng có yêu cầu thoả thuận và được bên bán điện chấp thuận lùi ngày trả nếu quá thời hạn thoả thuận lùi ngày trả mà bên mua điện vẫn chưa thanh toán đủ các khoản tiền nợ, bên bán điện có quyền ngừng cấp điện.

c) Khi thực hiện ngừng cấp điện bên bán điện phải thông báo thời điểm ngừng cấp điện cho bên mua điện trước 24 giờ và không chịu trách nhiệm về thiệt hại do việc ngừng cấp điện gây ra.

3. Trường hợp bên mua điện vi phạm quy định tại khoản 2 (trừ vi phạm thanh toán tiền điện) và khoản 3 Điều 6 của Quy định này, bên bán điện thông báo ngừng cấp điện cho bên mua điện trước 24 giờ so với thời điểm ngừng cấp điện; Trường hợp hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính thì chuyển hồ sơ cho cơ quan quản lý nhà nước về điện tại địa phương để xử lý theo quy định của pháp luật.

4. Việc cấp điện trở lại chỉ tiến hành sau khi bên mua điện đã thực hiện đầy đủ quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền và đã thanh toán đủ các chi phí ngừng và cấp điện trở lại cho bên bán điện.