Điều 7. Tổ chức kiểm định phương tiện đo
1. Kiểm định phương tiện đo:
a) Theo khả năng kiểm định đã được công nhận tổ chức kiểm định có trách nhiệm tiếp nhận và đỏp ứng các yêu cầu về kiểm định phương tiện đo của cơ sở. Trường hợp có những phương tiện đo vượt quá khả năng kiểm định của mình, tổ chức kiểm định tại địa phương có trách nhiệm phối kết hợp với tổ chức kiểm định có khả năng để tiến hành kiểm định cho cơ sở, nhằm thống nhất quản lý phương tiện đo;
b) Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản đăng ký kiểm định, tổ chức kiểm định phải thông báo kế hoạch cụ thể việc thực hiện kiểm định với tổ chức, cá nhân sử dụng phương tiện đo;
c) Thực hiện kiểm định phương tiện đo, thu và quản lý các chi phí dịch vụ kiểm định phương tiện đo. Lưu giữ đầy đủ hồ sơ kiểm định gồm sổ theo dõi quản lý tem, dấu, giấy chứng nhận kiểm định, biên bản kiểm định;
d) Phải công khai tại địa điểm kiểm định: Danh mục các loại phương tiện đo phải kiểm định; khả năng kiểm định các loại phương tiện đo đó được công nhận; mẫu dấu kiểm định, tem kiểm định, giấy chứng nhận kiểm định;
đ) Duy trì các điều kiện đảm bảo cho hoạt động kiểm định, đã được công nhận.
2. Thủ trưởng tổ chức kiểm định chịu tránh nhiệm trước pháp luật và cơ quan quản lý về việc sử dụng dấu, tem, giấy chứng nhận kiểm định và việc quản lý thu chi phí kiểm định phương tiện đo.
3. Tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn chịu sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng và cơ quan quản lý đo lường các cấp. Báo cáo hoạt động kiểm định gửi tới Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, định kỳ vào tháng 5, tháng 11 hàng năm và đột xuất theo yêu cầu.
4. Các tổ chức được công nhận khả năng kiểm định phương tiện đo có trách nhiệm phối hợp với Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng trong việc kiểm định phương tiện đo theo lĩnh vực đó được công nhận khả năng kiểm định.