vanban.org

Điều 1. Nay ban hành mức thu, nộp, quản lý và sử dụng phí qua đò trên địa bàn tỉnh Quảng Nam như sau: — Quyết định 38/2004/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 19/06/2004 Sửa đổi, bổ sung: 14/2012/QĐ-UBND · 27/06/2012
Quảng Nam Ban hành 04/06/2004 Hiệu lực 19/06/2004 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 1 phiên bản · 22 năm
Quyết định số 38/2004/QĐ-UBND Về mức thu, nộp, quản lý và sử dụng phí qua đò trên địa bàn tỉnh Quảng Nam · 38/2004/QĐ-UBND
07/07/201214/2012/QĐ-UBNDChưa hợp nhất 19/06/2004Bản gốcBan hành mới Hiện hành
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 38/2004/QĐ-UBND › Điều 1
Đọc toàn văn

Điều 1. Nay ban hành mức thu, nộp, quản lý và sử dụng phí qua đò trên địa bàn tỉnh Quảng Nam như sau:

1- Phí qua đò là khoản thu của chủ đò hoặc chủ bến đò đối với những người có nhu cầu qua sông, hồ; vận chuyển hàng hoá qua sông, hồ để bù đắp chi phí chạy đò và chi phí quản lý, sử dụng bến đò (nếu có).

2- Đối tượng nộp: Những người có nhu cầu qua sông, hồ; vận chuyển hàng hoá qua sông, hồ.

3- Mức thu:

a- Đối với đò ngang (áp dụng trong điều kiện thời tiết bình thường): Mức thu đối với hành khách là 1.000 đồng/người/lần; đối với hành khách có mang theo xe đạp, xe máy thì thu thêm 500 đồng/1xe đạp, 2.000 đồng/xe máy; đối với việc vận chuyển hàng hoá qua đò chỉ thu hàng hoá có khối lượng từ 50 kg trở lên (dưới 50 kg được tính như đối với xe đạp đi kèm theo hành khách), với mức thu tuỳ thuộc vào trọng lượng hàng hoá qua đò nhưng tối đa không quá 2.000 đồng/một đơn vị tính là 50 kg. Trường hợp là hàng hoá cồng kềnh thì mức thu tối đa không quá 02 lần đối với hàng hoá thông thường; giảm 50% mức thu nêu trên đối với khách đi đò là học sinh - sinh viên, 30% đối với khách đi đò thường xuyên (trên 25 lần/tháng).

 b- Đối với đò dọc: Hành khách hoặc chủ hàng thoả thuận với chủ đò hoặc chủ bến đò cho phù hợp với điều kiện và tình hình cụ thể.

4- Tổ chức thu, nộp, quản lý và sử dụng tiền phí:

Phí qua đò là phí không thuộc ngân sách Nhà nước; chủ đò hoặc chủ bến đò được Nhà nước cho phép sử dụng bến đò kể cả cho thuê đò (nếu có) để đưa đò nộp một lần tiền thuê sử dụng bến bãi và tiền thuê đò (nếu có) vào ngân sách Nhà nước. Tiền phí thu được là doanh thu của chủ đò hoặc chủ bến đò; chủ đò hoặc chủ bến đò có trách nhiệm đăng ký, kê khai, nộp, quyết toán thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác (nếu có) với cơ quan Thuế trực tiếp quản lý và có quyền quản lý, sử dụng số tiền phí sau khi đã nộp thuế.