vanban.org

Điều 13. Nhiệm vụ của bước đánh giá các thân khoáng sản — Quyết định 35/2001/QĐ-BCN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/02/2017 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 10/02/2017 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 42/2016/TT-BTNMT · 26/12/2016
Bộ Công nghiệp Ban hành 20/06/2001 Hiệu lực 05/07/2001 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 25 năm
Quyết định số 35/2001/QĐ-BCN Về việc ban hành "Quy chế đánh giá tiềm năng tài nguyên khoáng sản rắn trong điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản". · 35/2001/QĐ-BCN
10/02/201742/2016/TT-BTNMTBãi bỏ Đang xem 05/07/2001Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 35/2001/QĐ-BCN › Chương 3 › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Nhiệm vụ của bước đánh giá các thân khoáng sản

1. Mô tả chi tiết các vết lộ tự nhiên, nhan tạo; tổng hợp các tài liệu địa vật lý, địa hóa để lập bản đồ địa chất-khoáng sản và các mặt cắt ở tỉ lệ 1/5000 đến 1/1000 hoặc lớn hơn tùy theo mức độ phức tạp và kích thước các đối tượng cần biểu diễn. Trên các bản đồ và mặt cắt thể hiện được các yếu tố địa chất ảnh hưởng đến việc hình thành, tích tụ, phân bố và biến đổi khoáng sản, hình thái các thân khoáng sản và vị trí phân bố các loại khoáng sản. Xác định các thân khoáng sản và quy luật phân bố khoáng sản.

2. Lấy mẫu địa hóa, đo địa vật lý theo mạng lưới tuyến nhằm theo dõi dự báo các thân khoáng sản ẩn hoặc bị che phủ. Một thân khoáng sản ít nhất phải có hai tuyến đo sâu địa vật lý bằng các phương pháp thích hợp.

3. Khai đào trên mặt, khoan trên các tuyến để đánh giá nhằm theo dõi thân khoáng sản theo chiều sâu và theo đường phương. Một thân khoáng sản ít nhất phải có ba công trình khai đào và lấy mẫu khống chế đầy đủ bề dầy theo mạng lưới công trình đã thiết kế.

Mạng lưới tuyến đánh giá cần bố trí phù hợp với đặc điểm phân bố của các thân khoáng sản và mức độ phức tạp của chúng. Mạng lưới tuyến đánh giá cho một số loại khoáng sản được định hướng trong phụ lục 3.

4. Lấy và phân tích các loại mẫu nhằm

a- Phân chia các loại khoáng sản theo thành phần và đặc điểm cấu tạo kiến trúc. Khoanh định diện phân bố của chúng trong các khối xác định trữ lượng cấp C2. Yêu cầu phân tích phải đủ cơ sở để đánh giá khả năng sử dụng khoáng sản trong các lĩnh vực khác nhau.

b- Xác định loại khoáng sản, điều kiện thành tạo khoáng sản

c- Xác định thành phần vật chất, chất lượng khoáng sản, cụ thể là thành phần hóa học, khoáng vật, cấu tạo-kiến trúc, dạng tồn tại của thành phần có ích, có hại; các thành phần, yếu tố có hại cho quá trình tuyển, thí nghiệm các quy trình tuyển khác nhau, xác định mức độ thu hồi các thành phần có ích, chất lượng tinh khoáng sản (tinh quặng), thành phần đuôi khoáng sản (đuôi quặng), và đề xuất sơ đồ định hướng để làm giàu khoáng sản.

Có thể sơ bộ đánh giá tính khả tuyển của khoáng sản bằng cách so sánh với các mỏ khoáng tương tự và lấy mẫu, nghiên cứu mẫu kỹ thuật trong phòng.

d- Xác định các thông số để tính trữ lượng và tài nguyên dự báo khoáng sản. Đánh giá đặc điểm địa chất thủy văn, địa chất công trình theo quy định tại Điều 14, Điều 15 của Quy chế này.

Công tác lấy và phân tích mẫu phải đảm bảo độ chính xác và tính đại diện. Các mẫu rãnh phải được lấy theo đúng kích thước thiết kế phù hợp cho từng loại khoáng sản, cho các lớp kẹp để có đủ tài liệu xác định diện phân bố các loại khoáng sản. Mẫu kỹ thuật trong phòng phải bảo đảm yêu cầu đại diện cho loại khoáng sản chủ yếu trên diện tích đánh giá.

5. Công tác lấy và phân tích mẫu phải được tiến hành kiểm tra theo cac quy định hiện hành.

6. Lập bản đồ địa hình cùng tỷ lệ với tỷ lệ tìm kiếm theo hệ tọa độ quốc gia hoặc tọa độ độc lập bằng phương pháp kinh vĩ toàn đạc. Khoảng cao đều đường bình độ cơ bản tùy thuộc vào tỷ lệ và mức độ phân cắt của địa hình  và yêu cầu địa chất, dao động trong khoảng 5÷10m cho tỷ lệ 1/10000; 2÷5m cho tỷ lệ 1/5000; 1÷2m cho tỷ lệ 1/2000-1/1000. Các ký hiệu bản đồ phải sử dụng thống nhất theo quy định hiện hành của tổng cục địa chính.

Việc định vị các tuyến trục, một số tuyến ngang, các công trình gặp khoáng sản, quan hệ địa chất phải thực hiện bằng máy với sai số trung phương vị trí mặt phẳng/độ cao điểm công trình như sau:

- Tỷ lệ 1/10000               10/2,0m

- Tỷ lệ 1/5000                5/1,5m

- Tỷ lệ 1/2000-1/1000      2,5/1,0m

Sau đó phải cố định lâu dài bằng mốc xi măng các điểm đầu tuyến trục, một số điểm giao nhau của tuyến trục với tuyến ngang.

7. Xác định trữ lượng cấp C2 cho các thân khoáng sản theo một số phương án chỉ tiêu tính trữ lượng. Các chỉ tiêu để xác định trữ lượng được xây dựng trên cơ sở so sánh với các mỏ khoáng đã thăm dò hoặc đang khai thác có quy mô, chất lượng, điều kiện khai thác, chế biến khoáng sản tương tự. Các hệ thống chỉ tiêu để xác định trữ lượng cấp C2 phải được cơ quan có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản làm cơ sở khoanh nối thân khoáng sản theo các chỉ tiêu cho phép và theo các đặc điểm địa chất, hình thái của chúng. Việc xác định trữ lượng phải được tính bằng một số phương pháp khác nhau để so sánh, đánh giá độ tin cậy. Đối với khoáng sản có ích đi kèm, tùy thuộc mức độ biến đổi so với khoáng sản chính và hàm lượng của chúng, có thể xác định trữ lượng và tài nguyên dự báo cùng cấp hoặc giảm một cấp.

Đánh giá tài nguyên dự báo cấp P1 cho các thân khoáng sản, phần thân khoáng sản chưa được xác định trữ lượng cấp C2.

8. Điều tra để đánh giá khái quát điều kiện địa chất thủy văn – địa chất công trình trên diện tích phân bố các thân khoáng sản theo quy định tại Điều 14, Điều 15 của Quy chế này.

9. Đánh giá sơ bộ khả năng kinh tế của tài nguyên khoáng sản đã xác định trên cơ sở: nhu cầu của xã hội, thị trường trong nước và khu vực; cơ sở hạ tầng, tài nguyên dự báo, chất lượng khoáng sản, khả năng và phương pháp khai thác, chế biến khoáng sản; mức độ ảnh hưởng của quá trình khai thác đến môi trường sinh thái; so sánh với các mỏ khoáng tương tự đã và đang được thăm dò khai thác trong nước và khu vực.