vanban.org

Điều 5. Trách nhiệm của doanh nghiệp có doanh nhân được cấp thẻ ABTC — Quyết định 34/2018/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 02/04/2024 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 02/04/2024 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 13/2024/QĐ-UBND · 22/03/2024
Phú Yên Ban hành 17/08/2018 Hiệu lực 30/08/2018 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 17 năm
Quyết định số 34/2018/QĐ-UBND Ban hành Quy định về xét, cho phép sử dụng thẻ đi lại của doanh nhân APEC thuộc tỉnh Phú Yên · 34/2018/QĐ-UBND
02/04/202413/2024/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 30/08/2018Bản gốcThay thế
Quyết định số 1316/2009/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định về xét, cho phép sử dụng thẻ đi lại của doanh nhân APEC thuộc tỉnh Phú Yên · 1316/2009/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 34/2018/QĐ-UBND › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Trách nhiệm của doanh nghiệp có doanh nhân được cấp thẻ ABTC

1. Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin kê khai và nhân sự do mình đề cử xin phép sử dụng thẻ ABTC, cam kết sử dụng thẻ ABTC đúng mục đích, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật và quy định của Việt Nam và các nước, vùng lãnh thổ thành viên tham gia chương trình thẻ ABTC áp dụng đối với người được cấp thẻ ABTC.

2. Doanh nghiệp có trách nhiệm định kỳ 6 tháng (trước ngày 20 tháng 6) và hàng năm (trước ngày 20 tháng 12) báo cáo tình hình sử dụng thẻ ABTC của doanh nhân thuộc doanh nghiệp và gửi Sở Ngoại vụ để tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh.

3. Đối với doanh nhân không còn giữ các chức vụ nêu tại Điều 2 Quy định này, doanh nghiệp phải có trách nhiệm báo cáo kịp thời cho Sở Ngoại vụ để báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định thu hồi quyết định cho phép sử dụng thẻ ABTC, đồng thời có văn bản thông báo cho Cục Quản lý Xuất nhập cảnh - Bộ Công an để thực hiện việc thông báo cho cơ quan có thẩm quyền các nước hoặc vùng lãnh thổ thành viên về việc thẻ ABTC đã cấp cho doanh nhân đó không còn giá trị.