Điều 4. Việc sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, xây mới công trình kiến trúc tín ngưỡng, tôn giáo.
1. Khi sửa chữa, cải tạo công trình kiến trúc tín ngưỡng, tôn giáo mà không làm thay đổi kiến trúc, kết cấu chịu lực và an toàn của công trình thực hiện theo quy định tại Điều 28 Nghị định 22/CP.
2. Việc sửa chữa, cải tạo, nâng cấp công trình kiến trúc tín ngưỡng, tôn giáo không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này hoặc xây dựng lại, xây dựng mới công trình kiến trúc tín ngưỡng, tôn giáo, người phụ trách cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo có trách nhiệm gửi hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng đến UBND tỉnh.
3. Hồ sơ xin cấp phép xây dựng gồm:
a) Đơn xin cấp phép xây dựng (nêu rõ lý do, hình thức, kiểu dáng, quy mô, kích thước, địa điểm, nguồn kinh phí) có ý kiến bằng văn bản của UBND cấp xã sở tại (nêu rõ chính kiến đối với nội dung đề nghị trong đơn xin cấp phép xây dựng);
b) Bản vẽ thiết kế sơ bộ xây dựng công trình (theo quy định của Luật Xây dựng). Đối với việc dựng tượng tôn giáo phải có ảnh mẫu tượng kèm theo;
c) Giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai;
d) Ý kiến bằng văn bản của Ban Tôn giáo chính quyền tỉnh.
4. Trong thời gian 20 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, UBND tỉnh có trách nhiệm cấp giấy phép xây dựng.
5. Việc bảo quản, tu bổ và phục hồi công trình tôn giáo được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh thực hiện theo điều 35 Luật Di sản văn hóa và điều 17 Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa.
6. Khi được cấp phép xây dựng, trước khi thi công, người phụ trách cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo phải làm đầy đủ thủ tục về xây dựng cơ bản theo quy định của Luật xây dựng, thông báo ngày khởi công trước 07 ngày với UBND cấp xã sở tại. Người phụ trách cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật trong quá trình thực hiện giấy phép xây dựng.