Điều 4. Trong Quy chế này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. " Làn xe" là phạm vi giới hạn giữa hai vạch sơn (liền hoặc đứt khúc) hoặc giữa vạch sơn và dải phân cách mà phương tiện được phép đi theo hướng quy định.
Đối với đoạn đường có hai làn xe cơ giới cho một chiều ( từ Km 0 đến Km 2 + 174 thuộc địa phận Thành phố Hà Nội) thì làn xe cơ giới phía bên phải theo hướng xe chạy là làn xe cơ giới số 1(sau đây gọi là làn số 1), làn bên trái làn số 1 là làn xe cơ giới số 2. "Làn xe thô sơ" là làn quy định dành cho xe thô sơ và nằm ở phía bên phải làn số 1.
2. " Dải phân cách giữa" (từ Km o đến Km 2 + 174) là dải được xây bao bằng bó vỉa bê tông xi măng, trên có lớp phủ hoặc trồng cây, trồng cỏ để phân cách giữa hai chiều đi và về của phương tiện.
3. "Hành lang bảo vệ đường" là phạm vi quy định hai bên đường nhằm mục đích giữ gìn sự bền vững cho công trình, bảo vệ an toàn cho khai thác vận tải và khu dân cư tập trung dọc đường.
4. "Đường ngang" là đường giao cắt cùng mức với đường Láng - Hoà Lạc.
5. "Đường gom" là đường để tập trung phương tiện giao thông hoặc người, súc vật đi theo quy định tới các cầu chui để đi qua dưới đường Láng - Hoà Lạc nhằm giảm xung đột tại vị trí giao cắt cùng mức với đường Láng - Hoà Lạc, bao gồm đường gom dân sinh cho người, xe thô sơ và đường gom cơ giới địa phương cho xe cơ giới địa phương.
6. "Cầu chui dân sinh" tĩnh không 2,5m và "Cầu chui cho xe cơ giới địa phương" tĩnh không 3,2m là cầu phục vụ cho người, xe thô sơ và xe cơ giới khu vực hai bên đường qua lại để tránh việc đi giao ngay trên mặt đường Láng - Hoà Lạc.
7. " Xe cơ giới" là các loại xe có gắn động cơ như: xe tải, xe ca, xe con, xe chuyên dụng, xe lam, xe máy...
8. " Xe thô sơ" là các loại xe không có động cơ như: xe đạp, xe thồ, xe súc vật kéo, xe đạp lôi, xe ba gác, xe xích lô.