Điều 6. Phạm vi, phương thức thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế nguy hại
1. Phạm vi thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm:
a) Từ các cơ sở y tế đến cơ sở thực hiện dịch vụ xử lý chất thải nguy hại, cơ sở xử lý cho cụm cơ sở y tế;
b) Từ các Trạm y tế xã, phường, thị trấn, khu cách ly y tế, các cơ sở y tế trực thuộc về các Bệnh viện, Trung tâm Y tế quản lý trực tiếp.
2. Phương thức thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm:
a) Các cơ sở y tế hợp đồng với cơ sở thực hiện dịch vụ xử lý chất thải nguy hại có Giấy phép môi trường, Giấy phép xử lý chất thải nguy hại được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp để thu gom, vận chuyển. Phương thức thu gom, vận chuyển theo giấy phép được cấp;
b) Các Trạm y tế xã, phường, thị trấn, khu cách ly y tế ưu tiên thực hiện chuyển giao chất thải rắn y tế nguy hại theo quy định tại điểm a khoản này; trường hợp không ký được hợp đồng với cơ sở thực hiện dịch vụ thì vận chuyển chất thải y tế nguy hại đến các Bệnh viện, Trung tâm Y tế quản lý trực tiếp hoặc các cơ sở y tế xử lý cho cụm theo điểm c khoản 2 Điều 5 Quy định này để lưu giữ, chuyển giao, xử lý;
c) Các Bệnh viện, Trung tâm Y tế, cơ sở y tế công lập khác ưu tiên thực hiện chuyển giao chất thải rắn y tế nguy hại theo quy định tại điểm a khoản này; trường hợp không ký được hợp đồng với cơ sở thực hiện dịch vụ thì vận chuyển chất thải rắn y tế nguy hại đến các cơ sở ý tế xử lý cho cụm theo điểm c khoản 2 Điều 5 Quy định này để lưu giữ, chuyển giao, xử lý;
d) Các phòng khám tư nhân trong trường hợp không ký được hợp đồng với cơ sở thực hiện dịch vụ xử lý chất thải nguy hại thì vận chuyển chất thải rắn y tế nguy hại đến các cơ sở y tế xử lý cho cụm theo điểm c khoản 2 Điều 5 Quy định này để lưu giữ, chuyển giao, xử lý;
đ) Việc chuyển giao chất thải rắn y tế nguy hại theo mô hình cụm phải được ghi vào sổ giao nhận chất thải y tế nguy hại theo mẫu quy định tại Phụ lục số 06 ban hành kèm theo Thông tư số 20/2021/TT-BYT và lập chứng từ chất thải nguy hại theo mẫu số 04 Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT.