Điều 3. Quy định về phân loại chợ, phân cấp thu, nộp, quản lý và sử dụng phí chợ
A. Phân loại chợ:
1. Chợ được phân loại theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ và Khoản 2, Điều 1, Nghị định số 114/2009/NĐ-CP ngày 23/12/2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 02/2003/NĐ-CP.
2. Vị trí kinh doanh trong chợ: Tuỳ thuộc vào từng địa điểm, vị trí kinh doanh thuận lợi và lợi thế thương mại của điểm kinh doanh bán hàng mà Ban quản lý chợ, Doanh nghiệp quản lý khai thác chợ xây dựng cụ thể theo 4 vị trí (Từ vị trí 1 đến vị trí 4) trình UBND các huyện, thành phố, thị xã Quyết định cho phù hợp với thực tế của từng loại chợ;
B. Phân cấp thu, nộp, quản lý, sử dụng tiền thu từ phí chợ
1. Chợ do Nhà nước đầu tư:
a) Chợ do Nhà nước đầu tư nhưng chưa tổ chức đấu thầu mà do Ban quản lý chợ, Tổ quản lý chợ quản lý khai thác thì Ban quản lý chợ, Tổ quản lý chợ là đơn vị được phép thu phí chợ. Số tiền thu được từ phí chợ là phí thuộc ngân sách nhà nước; Trường hợp tổ chức thu phí đã được ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí cho hoạt động thu phí theo dự toán hàng năm được duyệt, thì khoản phí này phải nộp 100% vào ngân sách nhà nước theo chương, khoản, mục của mục lục ngân sách hiện hành;
Trường hợp tổ chức thu phí chưa được ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí cho hoạt động thu phí, hoặc tổ chức thu được uỷ quyền thu phí thì tổ chức thu phí được để lại một phần trong số tiền phí thu được, để trang trải chi phí cho việc thu phí theo quy định. Tỷ lệ để lại quy định tạm thời đối với chợ loại 1 là: 70%; chợ loại 2 là: 80%; chợ loại 3 là: 90% tính trên tổng số tiền thu được; phần tiền phí còn lại (Chợ loại 1 là: 30%; chợ loại 2 là: 20%; chợ loại 3 là: 10%) phải nộp vào ngân sách nhà nước theo chương, khoản, mục của mục lục ngân sách hiện hành. Hàng năm, tổ chức, cá nhân thu phí phải thực hiện lập báo cáo quyết toán với cơ quan nhà nước theo quy định.
b) Chợ do Nhà nước đầu tư nhưng đã tổ chức đấu thầu kinh doanh, khai thác, quản lý chợ, thì đơn vị trúng thầu là đơn vị được phép thu phí chợ. Số tiền thu được từ phí chợ là phí không thuộc ngân sách nhà nước; được xác định là doanh thu của tổ chức, cá nhân thu phí.
2. Đối với chợ do Nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng có vốn đóng góp của các hộ kinh doanh, hợp tác xã, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và tổ chức, cá nhân khác:
Giao Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã căn cứ mức độ, tỷ lệ góp vốn và khả năng quản lý để lựa chọn tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện, năng lực để đấu thầu thu phí chợ. Số tiền thu được từ phí chợ là doanh thu của tổ chức, cá nhân thu phí.
3. Chợ không do nhà nước đầu tư:
Do doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc tổ chức thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác chợ thì đơn vị đầu tư quản lý là đơn vị được phép thu phí chợ. Số tiền thu được từ phí chợ là doanh thu của tổ chức thu phí.
4. Quản lý phí chợ không thuộc ngân sách nhà nước:
Số tiền thu được từ phí chợ là phí không thuộc ngân sách nhà nước; được xác định là doanh thu của tổ chức, cá nhân thu phí. Các tổ chức, cá nhân thu phí có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật. Hàng năm, tổ chức, cá nhân thu phí phải thực hiện quyết toán thuế đối với số tiền phí thu được cùng với kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh khác (nếu có) với cơ quan thuế.
5. Các khoản thu khác từ hoạt động chợ:
Trong quá trình quản lý, khai thác chợ, các tổ chức cá nhân được phép thu một số khoản thu có liên quan đến hoạt động khai thác chợ như: Phí trông giữ xe đạp, xe máy, xe ô tô; phí vệ sinh; phí phòng cháy, chữa cháy; tiền sử dụng điện, tiền sử dụng nước và các khoản khác có liên quan đến hoạt động kinh doanh tại chợ. Việc tổ chức thu, nộp, quản lý, sử dụng các loại phí, tiền sử dụng điện, nước có liên quan trên phải thực hiện theo quy định hiện hành.