vanban.org

Điều 13. Quy định về bàn giao đất — Quyết định 33/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 06/06/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 06/06/2015 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 24/2015/QĐ-UBND · 27/05/2015
Bà Rịa - Vũng Tàu Ban hành 02/08/2011 Hiệu lực 12/08/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 33/2011/QĐ-UBND Ban hành quy định về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu · 33/2011/QĐ-UBND
06/06/201524/2015/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 12/08/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 33/2011/QĐ-UBND › Chương 2 › Điều 13
Đọc toàn văn

Điều 13. Quy định về bàn giao đất

1. Khi nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư, người có đất bị thu hồi có trách nhiệm nộp (bản gốc) các giấy tờ về quyền sử dụng đất, giấy tờ về quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (nếu có) cho Tổ chức Phát triển quỹ đất cấp huyện để chuyển cho cơ quan Tài nguyên và Môi trường làm thủ tục thu hồi, chỉnh lý hoặc cấp giấy chứng nhận đối với phần diện tích đất không bị thu hồi.

2. Trong thời hạn không quá hai mươi (20) ngày, kể từ ngày được thanh toán xong tiền bồi thường, hỗ trợ thì người có đất bị thu hồi phải bàn giao đất cho Tổ chức Phát triển quỹ đất cấp huyện.

Việc bàn giao đất giữa Tổ chức Phát triển quỹ đất cấp huyện và người có đất bị thu hồi phải lập thành biên bản và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị thu hồi.

3. Sau khi nhận bàn giao đất từ người sử dụng đất bị thu hồi đất, Tổ chức Phát triển quỹ đất thông báo bằng Văn bản cho Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện để phối hợp với UBND cấp xã nơi có đất bàn giao đất tại thực địa cho Chủ đầu tư. Việc bàn giao đất tại thực địa cho Nhà đầu tư được lập thành văn bản có ký xác nhận của Phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp xã và Nhà đầu tư.