vanban.org

Điều 6. Thủ tục chứng từ xin giải ngân: — Quyết định 329/1997/QĐ-NH21

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ban hành 07/10/1997 Hiệu lực 22/10/1997 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 329/1997/QĐ-NH21 › Chương 3 › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Thủ tục chứng từ xin giải ngân:

Khi có nhu cầu vay vốn các Tổ chức Tín dụng được lựa chọn tham gia dự án này cần phải lập "hồ sơ xin vay vốn" gồm:

6.1. Hợp đồng tín dụng: Các tổ chức tín dụng điền vào các "Hợp đồng Tín dụng" theo mẫu của Ngân hàng Nhà nước qui định và gửi Ban quản lý Dự án Ngân hàng. Khi điền Hợp đồng Tín dụng các Tổ chức Tín dụng cần chú ý một số điểm:

a) Lịch trình giải ngân: nêu rõ số đợt giải ngân, thời gian và số tiền cụ thể của từng đợt.

b) Kế hoạch trả nợ: trong kế hoạch này phải nêu rõ thời hạn trả lãi và gốc của khoản vay.

- Trả nợ lãi: trừ khi có sự thoả thuận khác giữa hai bên, các Tổ chức Tín dụng phải chủ động thanh toán lãi cho Ban quản lý Dự án Ngân hàng vào các ngày 1/2; 2/5; 1/8; 1/11 hàng năm theo phương thức như sau: đến ngày trả lãi, các bên vay (Tổ chức Tín dụng) chủ động trả lãi cho Ban quản lý Dự án Ngân hàng. Trường hợp ngày trả lãi vay trùng với các ngày lễ và ngày chủ nhật thì ngày trả lãi được tính vào ngày làm việc kế tiếp. Nếu quá 5 ngày tính từ các ngày phải trả lãi đã được xác định ở trên mà Ban quản lý Dự án Ngân hàng chưa nhận được tiền hay bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ là tiền đã được chuyển đi nhưng Ban Dự án chưa nhận được thì Ban quản lý Dự án Ngân hàng có quyền lập uỷ quyền thu chuyển tới Sở giao dịch NHNNTW - hoặc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố nơi bên vay mở tài khoản tiền gửi để trích tài khoản tiền gửi của bên vay, trả lãi vay phù hợp với Hợp đồng Tín dụng đã ký giữa Tổ chức Tín dụng và Ban Quản lý Dự án Ngân hàng và thông báo cho bên vay biết;

- Đối với lãi suất nợ quá hạn: sẽ được tính và thu theo các qui định hiện hành do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về phương pháp tính và thu lãi của các khoản vay quá hạn của các Tổ chức Tín dụng;

- Trả nợ gốc: bên vay phải nêu rõ số đợt trả, thời gian cụ thể và số tiền cụ thể của từng đợt thanh toán nợ gốc cho Ban quản lý Dự án Ngân hàng. Bên vay theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng thanh toán nợ gốc cho Ban quản lý dự án ngân hàng theo phương thức như sau: Khi đến hạn của hợp đồng, bên vay chủ động trả nợ cho Bên cho vay. Nếu quá hạn 5 ngày kể từ ngày cam kết thanh toán nêu trong Hợp đồng Tín dụng mà Ban quản lý Dự án Ngân hàng chưa nhận được tiền hay bất cứ bằng chứng nào chứng tỏ là tiền đã được chuyển đi nhưng Ban Quản lý Dự án chưa nhận được thì Ban quản lý Dự án Ngân hàng có quyền áp dụng biện pháp như đã nêu ở phần trả nợ lãi. Trường hợp trên tài khoản tiền gửi không có hoặc không đủ tiền để thanh toán nợ gốc thì số nợ chưa thanh toán được sẽ được chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày đến hạn hay gia hạn nợ.

6.2. Các Tổ chức Tín dụng "Khế ước nhận nợ" đối với khoản tiền xin rút trong từng đợt (1) (xem mẫu ở Phụ đính 1) ứng với từng lần nêu trong lịch trình giải ngân.

a) Trong "Khế ước nhận nợ" phải nêu rõ số tiền xin rút của một đợt, đồng tiền rút, chỉ dẫn thanh toán (tài khoản nhận tiền vay số.... tại ngân hàng................).

b) "Khế ước nhận nợ" do các tổ chức tín dụng tham gia lập và đánh số theo nguyên tắc sau:

- "Khế ước nhận nợ" phải được đánh số theo thứ tự bắt đầu từ số 1;

- Tiếp theo là gạch chéo và ghi số của Hợp đồng Tín dụng;

- Tiếp theo là gạch ngang và tên của Tổ chức Tín dụng vay vốn.

Ví dụ: Hợp đồng Tín dụng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) với Ban Quản lý Dự án Ngân hàng có số 23/BQLDANN-HĐ thì số khế ước nhận nợ cho đợt rút vốn thứ 3 của Hợp đồng này được đánh số là 3/23-BIDV.

6.3. Các chứng từ kèm theo:

a) Các tiểu dự án, Phương án sản xuất - kinh doanh có giá trị dưới 20.000 USD và tương đương: Ban quản lý Dự án Ngân hàng sẽ giải ngân cho các tiểu dự án trên cơ sở Tổ chức Tín dụng tự thẩm định. Trường hợp Tổ chức Tín dụng đã tự giải ngân trước cho các tiểu dự án này thì Ban quản lý Dự án Ngân hàng sẽ giải ngân trên cơ sở sao kê các khoản chi tiêu (Xem mẫu tại Phụ lục II) với điều kiện là các tiểu dự án đã được Tổ chức Tín dụng giải ngân bằng vốn của mình không quá 3 tháng tính đến ngày Tổ chức Tín dụng nộp đơn xin vay vốn cho Ban quản lý Dự án Ngân hàng.

b) Các tiểu dự án, Phương án sản xuất - kinh doanh có giá trị từ 20.000 USD đến 150.000 USD và tương đương: Ban quản lý Dự án Ngân hàng sẽ chỉ chấp thuận giải ngân sau khi xem xét và thông qua hồ sơ thẩm định dự án do Tổ chức Tín dụng thực hiện. Tuy nhiên cũng có thể có các ngoại lệ trong trường hợp Tổ chức Tín dụng được ban quản lý Dự án Ngân hàng đánh giá là thực hiện nghiêm túc quá trình thẩm định các dự án, đạt kết quả cao trong các hoạt động ngân hàng, Ban quản lý Dự án Ngân hàng có thể đề nghị với WB miễn thủ tục thẩm định lại tiểu dự án. Phương án sản xuất - kinh doanh do các Tổ chức Tín dụng trình lên. Nếu được WB chấp thuận, việc giải ngân cho các khoản vay cho Tổ chức Tín dụng này được thực hiện như đối với khoản vay có giá trị dưới 20. 000 USD tương đương, có nghĩa là giải ngân trên cơ sở sao kê các khoản chi.

c) Các tiểu dự án, phương án sản xuất - kinh doanh có giá trị trên 150.000 USD: ban quản lý Dự án Ngân hàng chỉ giải ngân khi được sự đồng ý của WB.

d) Đối với cả ba trường hợp nêu tại điểm (a), (b), (c) trên, Ban quản lý dự án Ngân hàng sẽ chấp thuận cho các Tổ chức Tín dụng tối đa 60 ngày kể từ ngày thông qua khoản vay để chuẩn bị hồ sơ các khoản vay lại, các chứng từ mua sắm và thanh toán gửi Ban Quản lý Dự án Ngân hàng hoặc được lưu tại Tổ chức Tín dụng theo yêu cầu của từng loại chứng từ được phân biệt theo 3 mức giá trị của các tiểu dự án được nêu ở trên. Nếu một Tổ chức Tín dụng không gửi hoặc không có được hồ sơ khoản vay lại từ Quỹ Phát triển nông thôn theo yêu cầu trong một khoảng thời gian đã xác định nêu trên, thì khoản vay lại từ Quỹ RDF sẽ bị từ chối và ngoài ra sẽ bị phạt theo mức được Ngân hàng Nhà nước quy định.