vanban.org

Điều 5. Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính — Quyết định 32/2018/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/10/2024 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/10/2024 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 38/2024/QĐ-UBND · 01/10/2024
Quảng Ninh Ban hành 24/10/2018 Hiệu lực 15/11/2018 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 7 năm
Quyết định số 32/2018/QĐ-UBND ban hành Quy định tạm thời xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh · 32/2018/QĐ-UBND
15/10/202438/2024/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 15/11/2018Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 32/2018/QĐ-UBND › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

1. Tạm giữ tang vật, phương tiện, ngư cụ, công cụ, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính thực hiện theo quy định tại Điều 125, Luật Xử lý vi phạm hành chính, cụ thể như sau:

a) Để xác minh tình tiết mà nếu không tạm giữ thì không có căn cứ ra quyết định xử phạt;

b) Để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính mà nếu không tạm giữ thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội;

c) Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt.

d) Trường hợp chỉ áp dụng hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có quyền tạm giữ một trong các loại giấy tờ theo thứ tự: giấy phép lái xe, lái tàu hoặc giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan đến tang vật, phương tiện. Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không có giấy tờ nói trên, thì người có thẩm quyền xử phạt có thể tạm giữ tang vật, phương tiện, ngư cụ, công cụ vi phạm hành chính cho đến khi cá nhân, tổ chức đó chấp hành xong quyết định xử phạt.

đ) Việc tạm giữ tang vật, phương tiện, ngư cụ, công cụ phải được chấm dứt ngay sau khi xác minh được tình tiết làm căn cứ quyết định xử phạt (trừ trường hợp tang vật, phương tiện, ngư cụ, công cụ bị tịch thu), hành vi vi phạm không còn gây nguy hiểm cho xã hội hoặc quyết định xử phạt được thi hành.

2. Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện, ngư cụ, công cụ theo quy định tại Điều 125 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, được quy định cụ thể như sau:

a) Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện, ngư cụ, công cụ để xác định giá trị làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt không quá 24 giờ, kể từ thời điểm ra quyết định tạm giữ, trong trường hợp thật cần thiết thì thời hạn có thể kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 24 giờ.

Trường hợp vụ việc vi phạm hành chính xảy ra ở nơi xa xôi, hẻo lánh, trên biển, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, miền núi hoặc những vùng mà việc đi lại khó khăn hoặc do tang vật là hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng thì thời gian tạm giữ là 48 giờ kể từ thời điểm ra quyết định tạm giữ;

b) Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện, ngư cụ, công cụ vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Đối với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại đoạn 2 Khoản 1 Điều 66 của Luật Xử lý vi phạm hành chính mà cần có thêm thời gian để xác minh thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn việc tạm giữ; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện, ngư cụ, công cụ vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được tính từ thời điểm tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ thực tế và không vượt quá thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 66 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, trừ trường hợp quy định tại điểm d Khoản 1 Điều này.

3. Đối với tang vật là hàng hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ ở nơi xa xôi, hẻo lánh, trên vùng biển, hải đảo, vùng sâu, vùng xa hoặc những vùng mà việc đi lại khó khăn mà ở thời điểm tạm giữ cơ quan tạm giữ không đủ điều kiện để trông coi, bảo quản tang vật, phương tiện đó thì giao cho người vi phạm trông coi, bảo quản và người vi phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc trông coi, bảo quản đó.

Trong trường hợp tang vật, phương tiện bị mất, đánh tráo, thay thế, hư hỏng, hoặc mất linh kiện, thì người trông coi, bảo quản tang vật, phương tiện phải chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật.