vanban.org

Điều 7. Quy trình phối hợp trong việc lập hồ sơ và thẩm định hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định — Quyết định 32/2018/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 24/09/2018 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bình Phước Ban hành 12/09/2018 Hiệu lực 24/09/2018 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 32/2018/QĐ-UBND › Chương II › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Quy trình phối hợp trong việc lập hồ sơ và thẩm định hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định

1. Lập hồ sơ và quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở xã hội (thời gian thực hiện 24 giờ kể từ khi lập hồ sơ cho đến khi ban hành quyết định):

a) Cơ quan Công an (Công an xã, phường, thị trấn; lực lượng cảnh sát phòng, chống ma túy tỉnh, huyện, thị xã) phát hiện người có hành vi sử dụng ma túy trái phép không có nơi cư trú ổn định phải tiến hành giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi phát hiện hành vi vi phạm thu thập các tài liệu và lập hồ sơ để ban hành quyết định đưa vào cơ sở xã hội để quản lý, chữa bệnh, cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục chờ Tòa án nhân dân huyện, thị xã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc.

Hồ sơ ban đầu trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn gồm

- Biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo mẫu M1 (Sử dụng biên bản vi phạm hành chính theo mẫu số 29BB-VPHC ban hành kèm theo Thông tư số 34/2014/TT-BCA ngày 15/8/2014); hoặc biên bản xét nghiệm có kết quả dương tính với chất ma túy tại thời điểm lập hồ sơ theo mẫu M2 (Sử dụng mẫu số 02 Thông tư liên tịch số 31/2005/TTLT-BLĐTBXH-BCA).

- Bản tường trình hoặc biên bản ghi lời khai của người vi phạm về hành vi sử dụng ma túy trái phép (nếu người vi phạm không biết chữ thì nhờ người viết hộ và điểm chỉ, người viết hộ ký tên và ghi rõ họ tên) hoặc kết quả xác minh của Công an cấp xã (kể cả qua bản fax) xác nhận không có cư trú tại nơi khai báo hoặc của người đại diện hợp pháp của họ thừa nhận không có nơi cư trú ổn định theo mẫu M3 (Sử dụng mẫu số 03a Thông tư số 20/2014/TT-BTP ngày 25/9/2014).

- Bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo mẫu M4 (Sử dụng mẫu số 01 Thông tư 14/2014/TT-BLĐTBXH ngày 12/6/2014).

- Các tài liệu vi phạm pháp luật liên quan đến người vi phạm (nếu có).

- Đơn vị cấp xã sau khi lập hồ sơ người nghiện ma túy đề nghị Công an huyện, thị xã tiến hành chụp ảnh, lập danh chỉ bản của người vi phạm.

Căn cứ để lập biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép bao gồm

- Phát hiện quả tang đang sử dụng ma túy trái phép.

- Có kết quả xét nghiệm dương tính ma túy (trừ trường hợp được chỉ định điều trị bệnh có sử dụng chất ma túy) trong các trường hợp không phải bắt quả tang đang sử dụng ma túy trái phép như: phát hiện đang tụ tập với người đang sử dụng ma túy; qua trình báo, qua phát động phong trào toàn dân tham gia phát giác, cung cấp thông tin về người nghiện ma túy; qua lời khai của người liên quan, nhân chứng (người biết sự việc) hoặc cơ sở khác biết được người vi phạm có sử dụng ma túy trước đó; có các dấu hiệu khác như tàng trữ chất ma túy hoặc tàng trữ công cụ, phương tiện để sử dụng ma túy...

- Trường hợp tuy kết quả xét nghiệm âm tính ma túy (do thời điểm xét nghiệm hết chu kỳ bán thải) nhưng người vi phạm thừa nhận đã từng sử dụng ma túy hoặc người vi phạm đã có tiền sự về việc sử dụng ma túy, nay phát hiện tàng trữ ma túy hoặc công cụ, phương tiện sử dụng ma túy (áp dụng đối với trường hợp còn thời hiệu 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính).

Trong quá trình lập hồ sơ, cơ quan Công an lập hồ sơ chịu trách nhiệm quản lý người vi phạm, đảm bảo an toàn và không để bỏ trốn; trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác thì tạm giữ người theo thủ tục hành chính theo quy định tại Điều 122 và Điều 123 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn

Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị của cơ quan Công an lập hồ sơ, phải xem xét để ra quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở xã hội theo mẫu M5 (Sử dụng mẫu số 03 Thông tư 14/2014/TT-BLĐTBXH ngày 12/6/2014).

Khi có quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn, cơ quan Công an lập hồ sơ có trách nhiệm chuyển ngay người nghiện ma túy và hồ sơ đến cơ sở xã hội theo quyết định. Cơ sở xã hội tiến hành kiểm tra, đối chiếu và tiếp nhận người nghiện ma túy kèm hồ sơ từ cơ quan Công an bàn giao (gồm bản sao hồ sơ nêu trên) để lập biên bản giao, nhận hồ sơ và người nghiện ma túy theo mẫu M6 (mẫu số 05 Thông tư 14/2014/TT-BLĐTBXH ngày 12/6/2014).

2. Xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc

a) Cơ quan Công an lập hồ sơ

Sau khi bàn giao người nghiện ma túy và hồ sơ cho cơ sở xã hội, trong thời hạn 15 ngày làm việc, cơ quan Công an lập hồ sơ tiếp tục xác minh, thu thập tài liệu.

Nếu kết quả xác minh người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc. Hồ sơ gồm các tài liệu đã quy định tại Khoản 1, Điều 7 Quy chế này và bổ sung:

- Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn về việc đưa người nghiện ma túy vào cơ sở xã hội để tiếp nhận quản lý, chữa bệnh cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo mẫu M5.

- Phiếu trả lời kết quả về tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo mẫu M8 (chưa có mẫu hướng dẫn, sử dụng phụ lục 6 Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BCA ngày 10/2/2012) do cơ sở xã hội cung cấp.

- Lý lịch người vi phạm đã được xác minh và kết quả tra cứu tiền án, tiền sự (nếu có).

- Phiếu trả lời kết quả xác minh tình trạng cư trú không ổn định của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo mẫu M7 (chưa có mẫu hướng dẫn Sử dụng mẫu số 04 Thông tư liên tịch số 31/2005/TTLT-BLĐTBXH-BCA).

- Thông báo của cơ quan lập hồ sơ cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện hợp pháp của họ về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc.

Sau khi hoàn thành hồ sơ, cơ quan lập hồ sơ phối hợp với cơ sở xã hội photo 01 bộ để người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc hoặc người đại diện hợp pháp của họ được đọc và ghi chép hồ sơ (có lập biên bản về việc đọc hồ sơ của người đó). Sau khi người bị đề nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ đọc xong hồ sơ thì cơ quan lập hồ sơ có văn bản đề nghị xem xét việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc, tập hợp hồ sơ đầy đủ đánh bút lục và lập thành 02 bản. Bản gốc gửi Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện để kiểm tra tính pháp lý, bản sao lưu tại cơ quan lập hồ sơ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.

Trong trường hợp cơ quan Công an có kết quả xác định được nơi cư trú ổn định (trong tỉnh hoặc tỉnh, thành khác) của người đang quản lý tại cơ sở xã hội; kết quả không xác định được tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó trong thời gian quản lý tại cơ sở quản lý thì cơ quan Công an nơi lập hồ sơ phải tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành văn bản hủy quyết định đưa người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định vào cơ sở xã hội theo mẫu số 11 (mẫu số 07 Thông tư số 34/2014/TT-BCA ngày 15/8/2014); đồng thời, gửi cơ sở xã hội để tổ chức triển khai thực hiện.

b) Cơ sở xã hội

Sau khi tiếp nhận người nghiện ma túy và hồ sơ do cơ quan Công an bàn giao, cơ sở xã hội tiến hành tiếp nhận, phân loại, tổ chức quản lý, chữa bệnh, cắt cơn giải độc phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý cho người nghiện ma túy với các nội dung sau:

Giai đoạn tiếp nhận, phân loại (ngày thứ nhất):

- Tư vấn cho người nghiện ma túy về phương pháp cai nghiện để bản thân họ sẵn sàng phối hợp thực hiện cai nghiện ma túy.

- Khám sức khỏe ban đầu và lập hồ sơ bệnh án theo mẫu M10 (mẫu số 01 Thông tư liên tịch số 41/2010/TTLT/BLĐTBXH-BYT ngày 31/12/2010).

- Kiểm tra đồ dùng cá nhân; loại trừ các chất ma túy kể cả thuốc gây nghiện, các thuốc có dẫn suất từ ma túy nhóm chất dạng thuốc phiện.

- Xét nghiệm, phát hiện chất ma túy và các xét nghiệm khác theo chỉ định của bác sỹ.

- Căn cứ hồ sơ bệnh án, các kết quả xét nghiệm và các tài liệu khác có liên quan theo hướng dẫn của Bộ Y tế tại Quyết định số 5075/QĐ-BYT ngày 12 tháng 12 năm 2007 về việc ban hành hướng dẫn chẩn đoán người nghiện ma túy các chất dạng thuốc phiện (Opiats) và Quyết định số 3556/QĐ-BYT ngày 10 tháng 9 năm 2014 về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các rối loạn tâm thần thường gặp do sử dụng ma túy tổng hợp dạng Amphetamine, cán bộ tiếp nhận phân loại người nghiện ma túy theo mức độ nghiện và loại ma túy sử dụng, tình trạng sức khỏe để tiếp nhận và bố trí vào các khu cắt cơn, điều trị phù hợp.

- Lập kế hoạch cai nghiện cho từng người nghiện ma túy dựa trên các căn cứ: loại ma túy sử dụng, thời gian sử dụng ma túy, nguyên nhân nghiện ma túy và các rối loạn tâm lý của người nghiện ma túy.

- Hướng dẫn người nghiện ma túy chấp hành nội quy, quy định về khám chữa bệnh, các nội quy sinh hoạt trong thời gian ở Cơ sở xã hội.

- Khám, theo dõi các triệu chứng lâm sàng tổng thể để làm cơ sở xác định tình trạng nghiện ma túy cho người nghiện ma túy.

Giai đoạn điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội (thực hiện trong thời gian từ 10 - 20 ngày)

- Căn cứ tình trạng sức khỏe, mức độ nghiện, loại ma túy sử dụng, các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng khác, y, bác sỹ cơ sở xã hội lập kế hoạch điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội cho người nghiện ma túy.

- Y, bác sỹ cơ sở xã hội căn cứ văn bản hướng dẫn về thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện để tiến hành xác định tình trạng nghiện hiện tại của người nghiện ma túy và chuyển gửi kết quả đến cơ quan Công an lập hồ sơ.

- Áp dụng các bài thuốc Đông y hoặc thuốc từ dược liệu đã được Bộ Y tế cho phép lưu hành và hướng dẫn điều trị hỗ trợ cắt cơn hoặc hướng dẫn điều trị cai nghiện ma túy đã được Bộ Y tế ban hành.

- Thực hiện các biện pháp tâm lý, vật lý trị liệu, giúp cho người nghiện ma túy bớt lo âu làm giảm hội chứng cai.

- Tổ chức điều trị cho người nghiện ma túy nhiễm HIV, bệnh lao hoặc các bệnh thông thường khác theo đúng phác đồ do Bộ Y tế quy định.

- Tổ chức truyền thông giáo dục sức khỏe về các bệnh nhiễm trùng cơ hội, HIV/AIDS và các bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục cho người nghiện ma túy.

- Trong quá trình theo dõi điều trị cắt cơn, giải độc. Nếu người nghiện ma túy có bất kỳ các bệnh lý khác vượt quá khả năng điều trị của cơ sở xã hội thì y sỹ, bác sỹ điều trị sẽ tiến hành hội chuẩn và chuyển tuyến trên để chuẩn đoán và điều trị kịp thời cho người nghiện ma túy.

- Phối hợp với cơ quan Công an lập hồ sơ, Tòa án nhân dân huyện, thị xã tổ chức cho người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc hoặc người đại diện hợp pháp của họ được đọc hồ sơ theo quy định.

Giai đoạn giáo dục, tư vấn, phục hồi hành vi, nhân cách

- Tiến hành phân khu quản lý người nghiện ma túy theo giới tính; độ tuổi; tình trạng sức khỏe; tình trạng nghiện ma túy; tiền án; tiền sự để bố trí nơi ăn ở, sinh hoạt theo yêu cầu điều trị và tình trạng sức khỏe đảm bảo an ninh trật tự, an toàn cho người nghiện ma túy trong thời gian được quản lý tại cơ sở xã hội.

- Tư vấn cho người nghiện ma túy về điều trị nghiện ma túy, giúp đỡ họ có cơ hội tìm hiểu về tác hại của ma túy và hậu quả của việc sử dụng ma túy; đồng thời, thảo luận với từng người nghiện ma túy về kế hoạch điều trị phù hợp nhất với hoàn cảnh và điều kiện của từng người.

- Thực hiện liệu pháp tâm lý cá nhân: Tổ chức người nghiện ma túy thành từng nhóm: nhóm cùng hoàn cảnh, nhóm cùng tiến bộ. Tại nhóm, người nghiện ma túy có thể bày tỏ những tâm tư, vướng mắc, lo âu để mọi người trong nhóm cùng thảo luận, tìm cách giúp đỡ, xóa bỏ sự cô độc, mặc cảm, thúc đẩy sự tôn trọng lẫn nhau, sự cởi mở và chia sẻ giữa mọi người.

- Thực hiện liệu pháp tâm lý tập thể: Giao ban buổi sáng; thảo luận về các chủ đề đạo đức, trách nhiệm với gia đình và xã hội về tác hại của nghiện ma túy. Các hoạt động phong phú, thể hiện tình thương yêu của tập thể với cá nhân và trách nhiệm của cá nhân với tập thể đó như một gia đình. Ngoài ra, có thể dùng các phương pháp trị liệu tâm lý khác như tâm năng dưỡng sinh, thiền trong trị liệu tập thể,

- Liệu pháp thể dục, thể thao, vui chơi giải trí: Tổ chức cho người nghiện ma túy tham gia các hoạt động thể dục, thể thao, vui chơi giải trí như: Bóng đá, bóng chuyền, văn hóa, văn nghệ, xem tivi và các loại hình thể thao, giải trí khác.

- Tổ chức quản lý đảm bảo không để người được quản lý tiếp tục vi phạm pháp luật và có mặt khi Tòa án nhân dân triệu tập xét xử, đảm bảo thi hành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc.

Lưu ý: Những hoạt động trị liệu trên được lặp lại hằng ngày, xen kẽ với các hoạt động khác trong giai đoạn 2 và 3.

3. Kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

a) Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện trong thời gian 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ. Kết quả kiểm tra phải được thể hiện bằng văn bản và gửi Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng cấp.

b) Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội trong thời gian 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của Trưởng phòng Tư pháp sẽ tiến hành đối chiếu hồ sơ đề nghị theo khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/NĐ-CP ngày 09 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ với nội dung văn bản kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp cùng cấp và thực hiện nhiệm vụ sau:

- Trường hợp hồ sơ đầy đủ thì đánh bút lục và lập thành hai bản, bản gốc chuyển Tòa án nhân dân đính kèm công văn đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc đối với người nghiện ma túy đang được quản lý tại cơ sở xã hội (nêu rõ tên cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc mà người bị đề nghị áp dụng biện pháp này sẽ phải thi hành), bản sao lưu tại phòng Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật lưu trữ.

- Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì có văn bản đề nghị cơ quan lập hồ sơ bổ sung, trong đó nêu rõ lý do và các tài liệu cần bổ sung vào hồ sơ. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, cơ quan lập hồ sơ phải bổ sung các tài liệu theo yêu cầu để phòng Lao động - Thương binh và Xã hội lập thủ tục hồ sơ chuyển Tòa án nhân dân theo quy định.

4. Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc

Tòa án nhân dân huyện, thị xã thực hiện các trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo quy định tại Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 10 tháng 02 năm 2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trong thời gian Tòa án tiếp nhận, thụ lý hồ sơ, cơ sở xã hội phối hợp thực hiện các thủ tục sau đây:

a) Trước khi mở phiên họp

- Giao nhận thông báo thụ lý của Tòa án cho người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc (sau đây gọi tắt là người bị đề nghị).

- Giao nhận giấy triệu tập và quyết định mở phiên họp của Tòa án cho người bị đề nghị.

- Giao nhận tài liệu chứng cứ do người bị đề nghị cung cấp cho Tòa án (nếu có); đơn và tài liệu yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng của người bị đề nghị (nếu có).

- Cơ sở xã hội bố trí nơi để người bị đề nghị đọc và ghi chép những tài liệu trong hồ sơ (nếu họ có yêu cầu).

b) Mở phiên họp

Cơ sở xã hội có trách nhiệm bố trí cơ sở vật chất, phối hợp với lực lượng cảnh sát hỗ trợ tư pháp tại các huyện, thị xã có đối tượng vi phạm để đảm bảo an ninh trật tự cho cơ quan Tòa án trong quá trình tổ chức phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc.

c) Sau phiên họp

- Giao nhận quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc; quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc của Tòa án cho người bị đề nghị.

- Nhận và giao cho Tòa án đơn khiếu nại đối với quyết định của Tòa án (nếu có) ngay sau khi nhận được đơn của người bị đề nghị.

- Giao nhận văn bản thông báo của Tòa án về việc kiến nghị, kháng nghị của cơ quan chức năng cho người bị đề nghị.

* Trường hợp trong thời gian quản lý tại cơ sở xã hội theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nhưng Tòa án có quyết định đình chỉ; quyết định tạm đình chỉ; quyết định không áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc quyết định chuyển đối tượng có dấu hiệu tội phạm theo Điều 116 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện phối hợp cơ quan Công an nơi lập hồ sơ và cơ sở xã hội lập thủ tục cho ra hoặc bàn giao người đó cho cơ quan điều tra theo quyết định của Tòa án.

5. Thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

- Khi người nghiện ma túy được cai nghiện, chữa bệnh tại cơ sở xã hội có quyết định của Tòa án nhân dân huyện, thị xã về việc đưa vào cai nghiện ma túy bắt buộc thì cơ quan Công an cấp huyện nơi lập hồ sơ đề nghị có trách nhiệm phối hợp với cơ sở xã hội lập biên bản bàn giao, chuyển người đó về cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo quyết định của Tòa án.

- Hồ sơ bàn giao người nghiện ma túy có quyết định của Tòa án từ cơ quan Công an sang cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2015 của Chính phủ.

- Trường hợp người nghiện ma túy tại cơ sở xã hội đã có quyết định của Tòa án mà bỏ trốn, cơ sở xã hội có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho cơ quan Công an cấp huyện nơi Tòa án quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc để ra quyết định truy tìm và áp giải người có quyết định về cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc.

- Cơ quan Công an lập hồ sơ có trách nhiệm tổng hợp quyết định của Tòa án về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc gửi bộ phận tổng hợp Công an tỉnh, huyện, thị xã để bổ sung vào danh chỉ bản và cơ sở dữ liệu hồ sơ nghiệp vụ.